Tại sao Kinh tế học hành vi lại thú vị, còn tôi thì không

Adam Grant (1981-)
Adam Grant (1981-)

Tại sao Kinh tế học hành vi lại thú vị, còn tôi thì không

Adam Grant

Dưới đây là một số nghiên cứu đáng ngạc nhiên ưa thích của tôi. Chúng có điểm gì chung?

  • Người ta có xu hướng mua mứt khi được giới thiệu 6 vị thay vì 24 vị.
  • Sau khi xem xét một căn nhà, các đại lý bất động sản nghĩ rằng sẽ được hời hơn 14,000 $ khi người bán định giá ở mức 149,900 $ thay vì 119,900 $.
  • Nếu trẻ em đang chơi một trò chơi vui nhộn và sau đó còn được thưởng cho trò chơi này, chúng sẽ mất hứng thú chơi tiếp nếu không còn được thưởng nữa.
  • Người ta tiết kiệm nhiều năng lượng khi được biết mức tiêu thụ của hàng xóm.
  • Nếu bạn tung một đồng xu 6 lần, thì nhiều người sẽ nghĩ trường hợp Ngửa-Ngửa-Ngửa-Sấp-Sấp-Sấp ít có khả năng xảy ra hơn trường hợp Ngửa-Sấp-Sấp-Ngửa-Ngửa-Sấp, mặc dù cả hai trường hợp đều có khả năng như nhau.
  • Nhiều nhà quản lý đánh giá thấp động lực tự thân (the intrinsic motivation) của nhân viên mình.

Tất cả những điều trên đều đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông dưới hình thức các nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà kinh tế học hành vi, trong khi trên thực tế chúng được thực hiện bởi các nhà tâm lý học.

Đây là một sai lầm phổ biến. Như một trong những người đoạt giải Nobel kinh tế nhận xét: “Khi bàn về việc hoạch định chính sách (policy making), các ứng dụng của tâm lý học xã hội hoặc tâm lý học nhận thức giờ đây thường được dán nhãn kinh tế học hành vi”.

Điều này xảy ra như cơm bữa với tôi: ít nhất một lần mỗi tuần, tôi được giới thiệu là nhà kinh tế học hành vi, trong khi thực chất tôi là một nhà tâm lý học tổ chức. Điều này xảy ra lần đầu tiên trước khi tôi đăng đàn phát biểu, tôi đã cố gắng đính chính (set the record straight) với nhà tổ chức chương trình rằng tất cả bằng cấp của tôi đều trong lĩnh vực tâm lý học. Phản ứng của ông ấy là: “Công việc của anh nghe có vẻ thú vị hơn (cooler) nếu tôi gọi anh là nhà kinh tế học hành vi”.

Hinh minh hoa trong baiTại sao lại như thế? Hãy xem xét năm lời giải thích cùng với những dẫn chứng như sau:

Giả thuyết thứ nhất: các nhà kinh tế học hành vi hấp dẫn hơn so với các nhà tâm lý học.

Khảo sát cho biết: Sai. Trong một nghiên cứu về sự hấp dẫn thể chất của các giáo sư ở 36 lĩnh vực khác nhau, các nhà kinh tế chỉ đạt hạng (#) 30 trong khi các nhà tâm lý học đạt hạng 10.

Giả thuyết thứ hai: các nhà kinh tế học hành vi làm nhiều công việc lý thú hơn các nhà tâm lý học.

Daniel Kahneman (1934-)
Daniel Kahneman (1934-)

Tu duy, nhanh va chamĐây cũng là một sai lầm. Dẫn chứng A: Daniel Kahneman, được xem là cha đẻ (the grandfather) của kinh tế học hành vi và cũng là tác giả của quyển Tư duy, Nhanh và Chậm (Thinking, Fast and Slow), thực ra là một nhà tâm lý học. Mặc dù đoạt giải Nobel kinh tế nhưng ông có bằng tiến sĩ tâm lý học và cũng là giáo sư tâm lý học trong suốt sự nghiệp của mình. Dẫn chứng B: Dan Ariely, được coi là một học giả hàng đầu trong kinh tế học hành vi và cũng là tác giả của cuốn Phi lý trí (Predictably Irrational), có nhiều bằng cấp về tâm lý học nhưng không hề có cái nào về kinh tế học.

Giả thuyết thứ ba: các nhà kinh tế học hành vi làm công việc lý thú hơn những nhà tâm lý học không mang tên Dan.

Malcolm Gladwell (1963-)
Malcolm Gladwell (1963-)

Cu hichLại sai. Đúng là các công trình lớn như Kinh tế học Hài hước (Freakonomics) và Cú hích (Nudge) đều do các nhà kinh tế học viết, nhưng đa phần sách bán chạy nhất về khoa học xã hội thuộc về lĩnh vực tâm lý học. Hầu hết các nghiên cứu được đề cập trong những cuốn sách của Malcolm Gladwell là của các nhà tâm lý học (ông ta cũng viết nhiều về xã hội học hơn là kinh tế học). Và trong số 20 bài nói chuyện trên TED được xem nhiều nhất (20 most-viewed TED talks), không có diễn giả nào là nhà kinh tế hay có nội dung về kinh tế học. Khi so sánh thì thấy 3 trong số những bài nói chuyện đứng đầu đều do các nhà tâm lý học trình bày (Amy Cuddy nói về ngôn ngữ cơ thể, Dan Gilbert nói về hạnh phúc, Shawn Achor cũng nói về hạnh phúc), 3 bài nói chuyện tiếp theo có tham khảo trực tiếp đến các nghiên cứu về tâm lý học (Dan Pink nói về động cơ, Susan Cain nói về người hướng nội, Pamela Meyer nói về cách phát hiện nói dối), và một số người khác giải quyết các chủ đề tâm lý học (bao gồm Ken Robinson nói về sự sáng tạo trong trường học, Simon Sinek nói về nghệ thuật lãnh đạo và Brene Brown nói về sự tổn thương).

Giả thuyết thứ tư: Kinh tế học hành vi nghe ra ít tính hiển nhiên (obvious) [như thế] hơn so với tâm lý học.

Dan Ariely (1967-)
Dan Ariely (1967-)

Phi lý trí (Predictably Irrational)Đúng như thế. Kinh tế học là khoa học về việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm, và nó đưa ra rất nhiều giải pháp thông minh, đầy bất ngờ. Chẳng hạn, đã bao giờ có ai nghĩ rằng có thể ngăn chặn các vụ cướp tàu điện ngầm bằng cách bảo vệ những cửa xoay kiểm soát (guarding turnstiles)?

Mặt khác, tâm lý học dường như giống với ý thức thông thường (common sense). Nhờ sở hữu một bộ não, tất cả chúng ta đều là chuyên gia về tâm lý học. Tại sao chúng ta lại cần đến các nhà tâm lý học để dạy cho mình những điều hiển nhiên (the obvious)? Sau đây là 3 ý tưởng đến từ tâm lý học chẳng gây kinh ngạc (exactly earth-shattering) gì cả:

  • Nếu bạn muốn ai đó đồng ý với một yêu cầu nhỏ, thì đưa ra một lý do tồi còn tệ hơn không có lý do nào cả.
  • Nếu bạn muốn hạnh phúc hơn, hãy lạc quan và ý thức sự may mắn của mình nhiều hơn (counting more blessings).
  • Nếu bạn đang tức giận, trút giận đi là một cách tốt để giữ bình tĩnh.

Ooồ! (Duh). Nhưng có một cái bẫy ở đây: cả ba phát hiện này đều trái ngược với những gì mà các nhà tâm lý học đã phát hiện.

Ellen Langer và những đồng nghiệp của mình phát hiện ra rằng nếu bạn yêu cầu những người xếp hàng trước nhường máy phô tô cho mình với lý do “vì tôi đang rất vội,” thì sẽ có 94% người được hỏi nói ‘có’. Nếu bạn không đưa ra lý do gì, thì chỉ có 60% người được hỏi nói ‘có’. Nhưng nếu bạn đưa ra một lý do ‘ma’, “vì tôi phải phô tô”, thì lại có đến 93% người được hỏi nói ‘có’. Việc sử dụng từ “vì” hợp lô gíc là đủ để kích hoạt sự đồng ý không chút do dự, mặc dù thông tin đi kèm không cung cấp thêm điều gì mới.

Brad Bushman
Brad Bushman
Norbert Schwarz (1953-)
Norbert Schwarz (1953-)

Nghiên cứu do Norbert Schwarz đứng đầu khuyến nghị rằng khi bạn kể tên ba điều tốt đẹp về cuộc sống của mình, thật dễ dàng để nghĩ về nó, và bạn dùng chúng như là một manh mối cho thấy rằng cuộc đời vẫn đẹp sao. Nhưng nếu bạn phải gọi tên cả một tá điều tốt đẹp về cuộc sống của mình, bạn sẽ phải suy nghĩ nhiều hơn, và có thể dẫn đến kết luận rằng cuộc đời không hẳn là tuyệt vời đến vậy.

các nghiên cứu do Brad Bushman đứng đầu cho thấy rằng việc trút giận khiến ta tức giận và nóng nảy hơn. Khi những người đang giận dữ được chọn ngẫu nhiên để đấm một bao cát (a punching bag), họ còn trở nên hung dữ hơn so với những người đã bị phân tâm hoặc không làm gì cả – và nhiều khả năng họ sẽ tạo ra sự ồn ào khó chịu liên hồi cho người làm họ tức điên.

Duncan Watts (1971-)
Duncan Watts (1971-)

The 50 Great Myths of Popular PsychologyTâm lý học chẳng hề đơn giản [một cách thẳng tuột] (straightforward) như đã tưởng. Khi nhà xã hội học Duncan Watts chỉ ra trong tác phẩm của mình, mọi thứ [vẫn] trông cứ hiển nhiên (obvious) [như thế] ngay [cả] khi bạn đã biết câu trả lời [cho nó]. (Xem thêm ví dụ tại quyển 50 huyền thoại vĩ đại của Tâm lý học đại chúng [The 50 Great Myths of Popular Psychology]).

Giả thuyết thứ năm: Kinh tế học hành vi được xem là chuẩn xác (rigorous) hơn so với tâm lý học.

Đúng vậy. Khi nghĩ đến các nhà kinh tế học, người ta hình dung đó là những bộ óc thông minh đang gặm nhấm (crunching) những con số. Còn khi nghĩ về tâm lý học, họ lại hình dung đến Sigmund Freud thả mình trên chiếc ghế dài, luyên thuyên rằng họ đã làm không tốt bài kiểm tra lái xe chỉ vì họ không giết cha và ngủ với mẹ mình. (Nếu phản đối điều đó, đừng lo lắng; bạn đang tự phủ nhận chính mình đấy).

“Các nhà tâm lý học … hầu như cứ buộc phải chấp nhận cái mác là các nhà kinh tế học hành vi, ngay cả khi họ cũng ngơ ngác với mớ kiến thức kinh tế học như tôi mà thôi”, Kahneman viết, và họ “được tưởng thưởng bằng [việc nhận lại] mối quan tâm sâu sắc hơn [từ cộng đồng] về những ý tưởng của mình, bởi [khi đó] họ có được sự tín nhiệm cao hơn vốn dành riêng cho các nhà kinh tế học nhà nghề (credentialed economists)”.

Sigmund Freud (1856-1939)
Sigmund Freud (1856-1939)

Tâm lý học đã đi được một chặng đường dài từ thời Freud, nhưng danh tiếng (brand) vẫn chưa bắt kịp. Khoa học tâm lý mới về tâm trí và hành vi (the new psychological science of the mind and behavior) [giờ luôn phải] dựa trên các thí nghiệm ngẫu nhiên, [nhưng] có kiểm soát với những hành vi có thể đo lường cũng như với những dữ liệu ảnh chụp cộng hưởng từ chức năng và sinh lý học (fMRI and physiological data). Một cách lý tưởng, chúng ta sẽ [có thể] bắt đầu tái khẳng định danh tiếng (rebranding) tâm lý học như một cơ sở của các ý tưởng lý thú, [nhưng cũng không kém phần] chuẩn xác. Ngoài ra, khi nói về việc xây dựng chính sách (formulating policy), Kahneman đề xuất rằng chúng ta nên ngưng việc vạch ra ranh giới trọng yếu giữa các lĩnh vực và chỉ [nên] tự coi mình là những nhà khoa học hành vi.

Dù thế nào đi nữa, hãy nói lời tạm biệt với Freud.

***

Giới thiệu tác giả:

Adam Grant sinh ngày 13/08/1981 tại bang Michigan, Hoa Kỳ. Anh là giảng viên chính thức trẻ nhất – được bổ nhiệm khi mới ngoài 20 tuổi – của trường Kinh doanh Wharton (thuộc Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ), đồng thời được công nhận là giáo sư có thành tích ấn tượng nhất tại ngôi trường nổi tiếng này. Anh được Business Week bình chọn là một trong những giáo sư tiêu biểu nhất và cũng là một trong 40 giáo sư dưới 40 tuổi xuất sắc nhất thế giới. Vốn đa tài, anh còn là cựu giám đốc quảng cáo, cựu vận động viên nhảy cầu chuyên nghiệp cũng như còn là một ảo thuật gia xuất sắc.

Adam đã xuất sắc hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tâm lý tại Đại học Michigan trước thời hạn 3 năm, tốt nghiệp Đại học Harvard với thành tích ấn tượng, nhận được bằng khen của câu lạc bộ Phi Beta Kappa. Ngoài ra, anh còn được tôn vinh là Giảng viên Xuất sắc ở các khóa học tổ chức tại các tổ chức danh tiếng như Google, the NFL, Merck, Pixar, Goldman Sachs, Facebook, Microsoft, Apple, Liên Hiệp Quốc, Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Hải quân và Không quân Hoa Kỳ. Anh đã đóng góp một số ý tưởng cho The Apprentice, từ đó giúp các sinh viên huy động được một nguồn quỹ hơn 175.000 đô-la để thành lập Make–A–Wish Foundation nhằm phát triển các kỹ năng lãnh đạo, hợp tác, làm việc nhóm và xây dựng mối quan hệ.

Dữ liệu từ các nghiên cứu của Adam xuất hiện trong hàng loạt đầu sách bán chạy cũng như trên các phương tiện truyền thông như Today ShowNew York Times. Ngoài ra, anh còn có hơn 60 công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành tâm lý và quản trị uy tín. Năm 2011, anh nhận được ba giải thưởng danh giá từ Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, Học viện Quản trị, và Hội Công nghiệp và Tâm lý tổ chức.

Mặc dù nghĩ rằng các nhà kinh tế học hành vi thú vị (cool), nhưng anh không phải là một trong số đó. Để nhận được bản tin miễn phí hàng tháng từ anh hãy đăng ký tại trang www.adamgrant.net.

 

Nguyễn Việt Anh, Trà Giang dịch

Nguồn: Why Behavioral Economics is Cool, and I’m Not, medium, 3 December 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s