Làm thế nào để làm cho thu nhập cơ bản phổ quát trở thành hiện thực

Stewart Lansley
Stewart Lansley
Howard Reed
Howard Reed

LÀM THẾ NÀO ĐỂ LÀM CHO THU NHẬP CƠ BẢN PHỔ QUÁT TRỞ THÀNH HIỆN THỰC

Liệu việc chi trả một thu nhập thường xuyên cho mọi công dân có hoạt động hiệu quả không? Liệu đó có là một bước khả thi tiến tới việc cải cách hệ thống phúc lợi hiện tại không? Dựa vào một báo cáo gần đây, Stewart Lansley Howard Reed giải thích cách thức để làm cho một chương trình như vậy hoạt động hiệu quả.

Hỗ trợ cho một thu nhập cơ bản phổ quát – chi trả một thu nhập thường xuyên và có đảm bảo cho các công dân của một quốc gia như là một việc đương nhiên theo luật – đang bắt đầu tăng tốc. Các cuộc thử nghiệm đang được hoạch định tại nhiều quốc gia, trong khi vùng Silicon Valley đang thử nghiệm chương trình Y Combinator tại California. Tại Liên hiệp Anh (UK), ý tưởng nhận được sự ủng hộ của Đảng Xanh và Đảng SNP, đang được Công đảng xem xét một cách nghiêm túc, và nhận được sự ủng hộ của Hội Nghệ thuật Hoàng gia (Royal Society of Arts) và Viện Adam Smith (Adam Smith Institute), một viện chính sách theo trường phái thị trường. Tiếp tục đọc

Trung Quốc: Khổng giáo kỹ thuật số

TRUNG QUỐC: KHỔNG GIÁO KỸ THUẬT SỐ

Bertrand Hartemann

Các logo của giới truyền thông trực tuyến chính thức của Trung Quốc – “Nhân dân Nhật báo”, hãng thông tấn Tân Hoa Xã – được đăng trên tường của trung tâm báo chí nhân phiên họp Quốc hội toàn quốc tại Bắc Kinh vào ngày 03/3/2014. (Ảnh: Jonathan Wu/EyePress/via AFP)

Bằng cách trở thành người ca ngợi toàn cầu hóa đồng thời là nhà vô địch của sự chuyển đổi kỹ thuật số, Trung Quốc dần dần vẽ ra một mô hình quản lý theo kiểu tự do-kỹ thuật. Huyền thoại của bộ máy quản lý của Hobbes [Thomas Hobbes, nhà triết học người Anh nổi tiếng với các tác phẩm về triết học chính trị – ND] từ nay hóa thân trong kỹ thuật số, đi kèm với thực tế xã hội để phục vụ các mục tiêu năng suất và hiệu quả tổng thể. Tiếp tục đọc

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Myron Scholes (1941-)

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Damien Gaumont

Myriam S. Scholes sinh tại Timmins (tỉnh Ontario, Canada) năm 1941, cha là một nha sĩ và mẹ là một thương gia giàu có. Là một học sinh giỏi, cuộc đời của ông thay đổi năm 16 tuổi một phần sau cái chết của người mẹ và phần khác do bị rách giác mạc làm thị lực của ông giảm nhiều. Do không đọc được nữa, ông có thói quen lí luận trừu tượng và khái niệm hoá để tìm giải pháp cho những vấn đề ông gặp phải, đặc biệt là ở cương vị thủ quĩ của nhiều câu lạc bộ thiếu niên. Để tìm hiểu xác suất và rủi ro ông đánh cược nhiều và đầu tư vào chứng khoán. Để tìm hiểu thế giới kinh doanh thương mại ông làm việc với cậu của ông. Năm 26 tuổi, việc ghép giác mạc trả lại cho ông thị lực. Ông quan tâm đến khoa học kinh tế và đặc biệt hơn đến tài chính để tưởng nhớ mẹ ông đã từng muốn ông cộng tác với cậu ông để viết một cuốn sách quảng bá kinh doanh thương mại. Đi tìm một phương thức nhiệm mầu làm cho ông trở nên giàu có, ông đam mê tìm hiểu những nhân tố quyết định giá cả các chứng khoán. Ông tốt nghiệp cử nhân đại học McMaster Hamilton ở Canada. Việc khám phá những công trình của Stigler (Nobel 1982) và của Milton Friedman (Nobel 1976) gây cho ông ấn tượng mạnh. Ông quyết định tiếp tục học tại đại học Chicago. Ông gặp Michael Jensen, Richard Roll và Jack Gould, những người hướng dẫn ông trong những khám phá về lí thuyết tài chính. Ông quyết định không trở về làm với doanh nghiệp của cậu ông. Theo đề nghị của Merton Miller (Nobel 1990) ông làm luận án tiến sĩ tài chính và tốt nghiệp năm 1968. Ông trở thành giáo viên phụ đạo tại Sloan School of Management tại Massachussetts Institute of Technology và trở thành đồng nghiệp của Franco Modigliani (Nobel 1985), Stewart Myes và Paul Cootner. Ông gặp Fischer Black và Robert Merton (Nobel 1987), người tiến hành cùng ông một sự hợp tác có kết quả. Giáo sư thỉnh giảng của đại học Chicago từ 1973 đến 1974, ông được một công việc thường xuyên ở đây cho đến 1980 bằng cách hoạt động nhiều cho Trung tâm nghiên cứu giá cả các chứng khoán. Là giáo sư thỉnh giảng của đại học Standford năm 1981, ông có một chân giảng dạy thường xuyên năm 1983. Ông làm việc với William Sharpe (Nobel 1990). Là nhà tư vấn cho Salomon Brother Incorporation năm 1990, ông trở thành giám đốc công ti này và đặc biệt phụ trách những giao dịch trên các chứng khoán có thu nhập cố định từ 1992 đến 1993 và vừa giảng dạy tại đại học Standford và tiến hành những nghiên cứu. Năm 1994, cùng với một số đồng nghiệp ông sáng lập một công ti quản lí vốn dài hạn trong đó ông áp dụng những lí thuyết của mình. Là tiến sĩ danh dự của đại học Paris-Dauphine năm 1989, của đại học McMaster năm 1990, của đại học công giáo Louvain năm 1998, ông được Viện hoàng lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển biểu dương năm 1997. Tiếp tục đọc

Ấn Độ, phòng thí nghiệm sinh thái của hành tinh

ẤN ĐỘ, PHÒNG THÍ NGHIỆM SINH THÁI CỦA HÀNH TINH

Antoine Ravignan

Ấn Độ, không bao lâu nữa là nước đông dân nhất thế giới, ngày nay đã 1,3 tỷ người, ngày càng có trọng lượng trong việc giải quyết vấn đề khí hậu toàn cầu. Ấn Độ bây giờ là nước phát thải khí nhà kính đứng hàng thứ 4 và các khí thải CO2 bùng nổ trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Chắc chắn, Ấn Độ vẫn là một đất nước ở tình trạng cực nghèo, nghèo đói thường xuyên – một phần ba dân số sống dưới mức 1 euro một ngày – trong khi lượng khí thải bình quân đầu người của họ thì đang ở mức dưới cùng của thang đo. Đó là những lập luận mà các nhà lãnh đạo nước này tiếp tục giương cao không mệt mỏi trong hai thập kỷ qua để biện minh cho sự không hành động của họ trước cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu – với những cam kết ở mức rất thấp tại hội nghị COP 21 – và trước sự xuống cấp của môi trường ở tầm địa phương. Tiếp tục đọc

Bất bình đẳng ở Châu Âu: Phức tạp và Đa chiều

BẤT BÌNH ĐẲNG Ở CHÂU ÂU: PHỨC TẠP VÀ ĐA CHIỀU

Michael Dauderstädt

Nói về bất bình đẳng ở Châu Âu, chúng ta phải đối mặt với một hình mẫu phức tạp về các vấn đề và các chiều kích khả dĩ mà có thể được đo lường theo nhiều cách khác nhau. Như Bảng 1 cho thấy, bất bình đẳng hiện liên quan đến các khía cạnh khác nhau như thu nhập, sự thịnh vượng hay tuổi thọ giữa các đối tượng khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, giới tính, lao động và vốn, vùng hay quốc gia. Kinh tế học và thống kê cung cấp các chỉ báo khác nhau để đo lường sự bất bình đẳng này và việc lựa chọn chỉ báo không phải là không bao hàm việc đánh giá giá trị. Tiếp tục đọc

R&D: khi châu Á nghiên cứu và triển khai thành công

R&D: KHI CHÂU Á NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI THÀNH CÔNG

Jean-Raphaël Chaponnière

Một khách tham quan người Hàn Quốc đang trải nghiệm một trò chơi thực tế ảo khi sử dụng sản phẩm Samsung Galaxy S7 Edge tại Hội chợ Hàng điện tử Hàn Quốc (KES2016) ở Seoul ngày 26/10/2016. (Ảnh: Seung-il Ryu/NurPhoto/via AFP)

Có những điệp khúc được hát để ru trẻ em ngủ, có những điệp khúc khác mà người lớn hát với nhau để tránh nhìn thẳng vào sự thật. Trong số những điệp khúc thuộc loại sau, có một điệp khúc liên quan đến Châu Á: người châu Á sao chép và không có khả năng phát minh. Điều đó ngụ ý nói đến người Nhật Bản, rồi đến người Hàn Quốc và giờ đây đến người Trung Quốc.

Ngoài chứng mất kí ức ở tâm điểm của những câu chuyện nói trên, người kể những câu chuyện đó quên rằng sao chép giúp tiến bộ khi bản thân có nhiều nỗ lực. Nếu không, bản sao là một đặc lợi phản tác dụng như một nghiên cứu về những hậu quả của hoạt động gián điệp công nghiệp của Stasi [Bộ An ninh Quốc gia Đức – ND] đã chứng minh: các gián điệp Đông Đức đã thành công trong việc thu thập được tất cả các công nghệ được Tây Đức sử dụng; thế mà, việc thu thập công nghệ đã không cho phép Đông Đức đuổi kịp Tây Đức, mà các bản sao còn có một hiệu ứng loại trừ R&D ở nước Cộng hòa Dân chủ Đức (DRG [Democratic Republic of Germany]). Đây không phải là trường hợp ở châu Á và càng không phải là trường hợp ở Trung Quốc. Như J. M. Howkins, tác giả của một cuốn sách về nền kinh tế sáng tạo[1], đã mỉa mai, nói rằng người Trung Quốc là người sao chép mới chỉ là một nửa sự thật: họ là những người sao chép xuất sắc! Nếu Baidu bắt đầu là một bản sao hoàn hảo của Google, thì công cụ tìm kiếm Baidu của Trung Quốc đã tiến hóa. Sự quan tâm đến bản sao không che giấu được điều cốt lõi. Đồng thời với việc sao chép, các nước châu Á đang đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và triển khai (R&D). Tiếp tục đọc

Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Mác và kinh tế thị trường (II)

SỨC LAO ĐỘNG PHẢI CHĂNG LÀ HÀNG HOÁ?

Trần Hải Hạc

Giữa học thuyết Mác về chủ nghĩa tư bản và học thuyết tự do chủ nghĩa về kinh tế thị trường, mối tương quan thường được quan niệm như là đối kháng. Đó là xét tương quan về mặt chính trị và hệ tư tưởng.

Về mặt lý luận kinh tế, giữa học thuyết tự do kinh tế và học thuyết Mác – chí ít theo cách đọc chính thống của nó –, không phải không có những điểm tương đồng. Trước tiên là quan điểm duy kinh tế của những phân tích trong đó vai trò đấu tranh xã hội không có tính quyết định và nhà nước có chỗ đứng ở bên lề. Đồng quan điểm này đặc biệt thể hiện trong lý luận xem tiền tệ và sức lao động (hoặc lao động) như là những hàng hoá.

Tiền tệ phải chăng là hàng hoá? Bài đầu tiên (Diễn Đàn số 36, tháng 12 1994) đã thử phân tích tính nước đôi của lý luận mác xít, và những hệ luận mang tính thời sự ở những nước – như Việt Nam – đang chuyển sang nền kinh tế thị trường. Bài thứ hai dưới đây sẽ xét câu hỏi và những vấn đề đặt ra đối với phạm trù sức lao động.

Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Câu trả lời dường như quá hiển nhiên: Đặc tính của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chính ở chỗ đã biến sức lao động thành hàng hoá, cho nên chế độ tư bản, theo Mác, đồng nghĩa với chế độ lao động làm thuê. Song, khi xây dựng lý luận về tiền công, bộ Tư bản đã không tránh khỏi một sự nhập nhằng, thiếu nhất quán, dẫn đến hai cách đọc Mác đối lập nhau. Tiếp tục đọc