Tin học và Sinh học hội tụ

ĐẦU THẾ KỶ 21:

TIN HỌC VÀ SINH HỌC HỘI TỤ

Hàn Thuỷ

Để tưởng nhớ Bùi Mộng Hùng

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon

Tục ngữ

Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói chung chỉ biết có số không và số một, không có gì khô khan hơn. Hiện nay đại đa số những người làm tin học không biết gì đến sinh học, và đa số người làm sinh học cũng chỉ dùng máy tính như một dụng cụ để viết bài hay tính toán.

Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong thời gian vừa qua cũng thấy không hiếm những thông tin hay bài báo nói về những khảo cứu vận dụng cả hai ngành khoa học – công nghệ nói trên. Thí dụ một số tựa như: “Sự thành hình ngành y khoa xi-be”, L’avènement de la cybermédecine, La Recherche, tháng 2.2000; Phải chăng ngày mai sẽ có loài vật nhân tạo?”, Les animaux artificiels sont-ils pour demain?, La Recherche, tháng 10.1998; “Từ Sinh học tới Tin học”, De la Biologie à l’Informatique, La Recherche, tháng 2.1999; “Tính toán bằng ADN”, Calculer avec l’ADN, Pour la Science, tháng 10.1998; vân vân, không thể kể hết. Người ta luôn luôn gặp những thuật ngữ mới (vì mới quá, xin phép không dịch vì đây là công việc mà ngay những người trong nghề cũng phải bàn cãi cẩn thận), như Biopuce, Biocomputer, Pilule électronique, Algorithme  génétique, mạng nơron… cũng không thể kể hết.

Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra? Tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó tới đâu? Tiếp tục đọc

Advertisements

“Các con đường tơ lụa mới” và sự đổi mới: một lộ trình không có dự án?

“CÁC CON ĐƯỜNG TƠ LỤA MỚI” VÀ SỰ ĐỔI MỚI: MỘT LỘ TRÌNH KHÔNG CÓ DỰ ÁN?

Alisée Pornet

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng ly chúc mừng tại bữa tiệc chào đón các khách mời tham dự Diễn đàn về con đường tơ lụa mới, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 14/5/2017. (Ảnh: AFP PHOTO / POOL / DAMIR SAGOLJ)

Hội nghị thượng đỉnh quốc tế đầu tiên về dự án “Con đường tơ lụa mới” đã diễn ra, từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5, tại Bắc Kinh với các nguyên thủ quốc gia từ 29 nước trong đó có Vladimir Putin [tổng thống] của Nga và Joko Widodo [tổng thống] của Indonesia. Sáng kiến “Một vành đai, Một con đường” (OBOR, One Belt One Road) được Tập Cận Bình đề xướng vào năm 2013 từ Kazakhstan, nhắm đến việc đầu tư 1.000 tỷ US$ tại 65 quốc gia. Đây chủ yếu là vấn đề Trung Quốc hỗ trợ các dự án cơ sở hạ tầng – đường cao tốc, đường sắt, cảng biển và cả năng lượng – để cân bằng lại sự phát triển kinh tế trong nước, tăng cường chính sách khu vực của họ và trở thành cường quốc đứng đầu có ảnh hưởng đối với khu vực, trước cả Hoa Kỳ và Nga. Tiếp tục đọc

Phát triển

PHÁT TRIỂN

Paul Bairoch*

1. Một khái niệm mới cho một hiện tượng xưa

Trong một bộ bách khoa về những vấn đề kinh tế, thuật ngữ “phát triển” tự nó kéo theo tính từ “kinh tế”. Vả lại, trong tiếng Anh, “economic development” được dùng nhiều hơn là “development” không thôi. Tuy nhiên điều này không đủ để làm rõ khái niệm phát triển; nhất là nghĩa này của thuật ngữ là mới có gần đây; như thế trong tiếng Pháp nó xuất hiện vào cuối những năm 1950 (xem phiếu số 1 Lịch sử của thuật ngữ phát triển). Thuật ngữ phát triển bắt nguồn từ thuật ngữ chậm phát triển, từ việc ý thức khoảng cách kinh tế ngày càng tăng ngăn cách thế giới phát triển với thế giới thứ ba. Mặt khác -và, qua điều này, nội dung mang nặng cảm xúc càng nổi bật- chỉ mới vừa được dùng, thuật ngữ chậm phát triển, và đặc biệt là những nước chậm phát triển, bị phê phán kịch liệt. Rất nhanh nó được thay thế, đặc biệt trong khuôn khổ của những tổ chức quốc tế năm 1965, bởi thuật ngữ vô cùng sai lầm là các nước đang phát triển. Xin được nhắc là thuật ngữ “thế giới thứ ba” do Alfred Sauvy sáng tạo ngay từ năm 1952 (trong bài viết của ông “Trois mondes, une planète” [Ba thế giới, một hành tinh], Nouvel Observateur [Người quan sát mới], 14 tháng tám) và sự thành công của thuật ngữ này vượt ra ngoài phạm vi những nước dùng tiếng Pháp, dù nó qui chiếu về đẳng cấp thứ ba[1]. Tiếp tục đọc

Niết bàn của các nhà kinh tế học (5): Các đường biểu diễn

Niết bàn của các nhà kinh tế học (5)

CÁC ĐƯỜNG BIỂU DIỄN

Đường Beveridge

Lord William Beveridge (1879-1963) được biết đến nhiều nhất vì là người đặt cơ sở (năm 1942) cho hệ thống bảo hiểm xã hội của Anh, như nó được thiết lập kể từ năm 1945, dưới sự thúc đẩy của chính phủ thuộc Đảng Lao động của Clement Attlee. Vả lại người ta gọi mô hình Beveridge (đối lập với mô hình Bismarck) mọi hệ thống bảo hiểm xã hội theo khuynh hướng phổ quát (tất cả mọi người đều được trợ cấp và kinh phí cho chế độ bảo hiểm xã hội được lấy từ tiền thuế), trong khi đó hệ thống Bismarck dựa trên việc làm và các khoản đóng góp về an sinh xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được giới hạn trợ cấp theo chế độ người hưởng quyền.

Nhưng đường biểu diễn được đặt tên theo Nam tước không liên quan đến chế độ bảo hiểm xã hội. Nó kết nối tỷ lệ việc làm còn trống tại một thời điểm nhất định với tỷ lệ thất nghiệp. Thông thường, khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, thì tỷ lệ việc làm còn trống giảm: người thất nghiệp phải chấp nhận những vị trí công việc này, bởi vì họ không có sự lựa chọn. Ngược lại, khi tỷ lệ thất nghiệp giảm, thì tỷ lệ việc làm còn trống tăng. Nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ việc làm còn trống đều tăng, thì điều đó có nghĩa là có tình trạng thất nghiệp cơ cấu: trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp của người thất nghiệp và các vị trí việc làm còn trống không phù hợp, và điều này dẫn đến một sự tiến hóa của hệ thống đào tạo để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ngành nghề. Tiếp tục đọc

Dân cư TPHCM mong muốn mức học vấn cho con

DÂN CƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MONG MUỐN MỨC HỌC VẤN CHO CON

Bùi Thế Cường[*]

EXPECTATION OF HO CHI MINH CITY’S RESIDENTS TO THEIR CHILDREN’S EDUCATIONAL LEVEL. Based on a survey conducted in 2010, the paper outlines the expectation of the Ho Chi Minh City’s residents to their son’s and daughter’s educational level. Several characteristics of the respondents, including education level, occupational status, income, and age, are taken into consideration. The analysis shows that the majority of the interviewees present the expectation toward to high educational level for their sons as well as daughters. And there is the little difference by the four characteristics of the interviewees as mentioned above. The high expectation of children’s education without the gender bias among all social strata of the Ho Chi Minh City’s residents should be seen as an important value and resource of the City for the development.

Dựa trên số liệu khảo sát năm 2010, bài viết trình bày mong muốn về mức học vấn cho con trai và con gái ở cư dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sự khác biệt được xem xét theo một số đặc điểm của người trả lời, gồm học vấn, vị thế nghề, thu nhập và độ tuổi. Kết quả phân tích cho thấy phần lớn cư dân Thành phố Hồ Chí Minh kỳ vọng cao đối với mức học vấn cho cả con trai và con gái. Và điều này rất ít khác biệt theo bốn đặc điểm nêu trên. Sự phổ biến rộng và đồng thuận giữa các giai cấp và tầng lớp trong kỳ vọng học vấn cho thế hệ sau không phân biệt theo giới tính là một giá trị và nguồn lực quan trọng để Thành phố vận dụng cho phát triển, với điều kiện xây dựng được một thể chế giáo dục đúng đắn.

Từ khóa: mong muốn học vấn, cơ cấu nghề, Thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp tục đọc

Những hứa hẹn của không gian blog kinh tế

NHỮNG HỨA HẸN CỦA KHÔNG GIAN BLOG KINH TẾ

Arthur Charpentier Thomas Renault

Blog cho phép các nhà nghiên cứu bước ra khỏi tháp ngà của họ, giao tiếp với một công chúng rộng lớn hơn và biến các công trình của họ thành một đề tài tranh luận. Tuy nhiên, những ý kiến trao đổi trái chiều vẫn còn quá hiếm trong không gian blog kinh tế Pháp ngữ.

Blog đang chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các cuộc tranh luận về kinh tế. Ngay cả khi blog hoạt động năng động, thì không gian blog kinh tế Pháp ngữ vẫn còn tương đối khiêm tốn so với sự thành công của không gian blog kinh tế Anh ngữ. Về mặt lịch sử, các bài phân tích kinh tế từng được giới thiệu trong các công trình nghiên cứu, các sách báo hoặc tạp chí chuyên ngành, hoặc qua các cột bình luận trên các báo và tạp chí có một công chúng rộng lớn hơn, thậm chí qua các chương trình phát thanh hay truyền hình. Với sự ra đời của các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đã ứng dụng nhiều hình thức khác để thảo luận và giải thích về kinh tế học. Các trang wiki tập thể và hợp tác đã được tạo lập vì mục đích sư phạm đại chúng; các diễn đàn đã được mở ra cho các cuộc tranh luận, nơi mà mọi người đều có thể nói lên tiếng nói và đưa ra ý kiến của mình; và đặc biệt là các blog đã được khởi xướng dưới sự thúc đẩy của những người viết blog, những người đã tìm ra một cách biểu hiện bổ sung cho hoạt động hàng ngày của họ. Thuật ngữ blog[1], ra đời từ sự thu hẹp của thuật ngữ “weblog”, khá mơ hồ để bao phủ các hình thức và thực hành rất khác nhau. Tiếp tục đọc

Hoa Kỳ/ Kenya: Công bố nghiên cứu mới về các kết quả thí điểm thu nhập cơ bản tại Kenya

HOA KỲ/ KENYA: CÔNG BỐ NGHIÊN CỨU MỚI VỀ CÁC KẾT QUẢ THÍ ĐIỂM THU NHẬP CƠ BẢN TẠI KENYA

Austin Douillard

Các phụ nữ tại một làng nông thôn ở phía Tây Kenya. (Andrew Renneisen/Thời báo New York)

GivenDirectly, một tổ chức phi chính phủ đóng tại New York, mà hoạt động đã được Thời báo Thu nhập Cơ bản tường thuật trước đây, đã khởi xướng một chương trình thí điểm tại một làng nông thôn ở phía Tây Kenya, vào tháng Mười vừa qua. Tổ chức vừa mới công bố phân tích nội bộ về chương trình thí điểm, trong một nỗ lực đầu tiên để tổng hợp những kết quả của một dự án của GiveDirectly về thu nhập cơ bản. Những kết quả sẽ tạo lập tinh thần chung cho các chương trình tiếp theo và ảnh hưởng đến chính sách thu nhập cơ bản nhằm tạo bước tiến về phía trước. Tiếp tục đọc