Chiến tranh thương mại: Việt Nam trong tầm ngắm của Bộ Tài chính Mỹ

CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI: VIỆT NAM TRONG TẦM NGẮM CỦA BỘ TÀI CHÍNH MỸ

Jean-Raphaël Chaponnière

Tổng thống Mỹ Donald Trump và người đồng cấp Việt Nam Trần Đại Quang tại phủ chủ tịch, ngày 12 tháng 11 năm 2017 tại Hà Nội. (Nguồn: CNN)

Điều này nằm trong logic của sự việc: cuộc chiến tranh thương mại do Donald Trump kích hoạt đang làm thay đổi các giao dịch thương mại của Hoa Kỳ với châu Á. Với việc gia tăng đánh thuế hải quan lên các sản phẩm của Trung Quốc, nổi lên một hiện tượng cơ bản: sự di dời các nhà xưởng đến Việt Nam. Điều này làm cho mức thâm hụt của Mỹ với đất nước này còn sâu hơn. Vào lúc này, ông chủ nhà Trắng chưa có gì phải tức giận. Nhưng ở Washington, Bộ Tài chính đang theo dõi xu hướng thật chặt chẽ.

Trong bốn tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ và của Hoa Kỳ sang Trung Quốc đã sụt giảm. Mức thâm hụt của Washington với Bắc Kinh đã giảm xuống 8% còn 113 tỷ USD, trong khi tổng mức thâm hụt gần như không thay đổi – trong khoảng từ 347 đến 349 tỷ USD. Tiếp tục đọc

Lý thuyết Tiến hóa của Hayek bác bỏ Quan điểm Chính trị của chính ông như thế nào

LÝ THUYẾT TIẾN HÓA CỦA HAYEK BÁC BỎ QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ CỦA CHÍNH ÔNG NHƯ THẾ NÀO

Ông đang tranh luận với Stalin đấy, chứ không phải với Na Uy đâu.

Thể loại Phức hợp

Bài phỏng vấn Sam Bowles của David Sloan Wilson

Với vai trò là một người theo thuyết tiến hóa phê phán lĩnh vực kinh tế học, tôi từng cảm thấy mình giống như một người ngoài ngành mãi cho đến khi tôi bắt gặp công trình của Friedrich Hayek. Chính nhà kinh tế người Áo này đã phê phán lý thuyết cân bằng chung của Walras và đề xuất một lý thuyết thay thế triệt để: các hệ thống kinh tế là một hình thức trí tuệ phân tán vốn được tiến hóa thông qua quá trình chọn lọc nhóm văn hóa. Chúng vận hành mà không cần bất kì ai thiết kế.

Đó là lĩnh vực chuyên môn của tôi. Tôi đã phải ngưỡng mộ Hayek như một người tiên phong, đặc biệt vì quá trình chọn lọc nhóm là một niềm tin đi ngược với số đông và vì nghiên cứu về quá trình tiến hóa về mặt văn hóa của con người mới manh nha khi ông bắt đầu viết sách. Tuy nhiên, cả hai chủ đề này đều đã phát triển vượt bậc từ đó và không ủng hộ quan điểm của chính ông về việc các hệ thống kinh tế hoạt động tốt nhất khi không có bất cứ sự điều tiết nào. Thay vào đó, lý thuyết chọn lọc nhóm văn hóa đề xuất một con đường trung gian giữa tự do kinh tế và kế hoạch hóa tập trung có nhiều triển vọng. Tiếp tục đọc

55 năm sau khi Chất độc màu da cam được sử dụng ở Việt Nam, một trong những công ti tạo ra nó đang phát triển mạnh ở đây

55 NĂM SAU KHI CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở VIỆT NAM, MỘT TRONG NHỮNG CÔNG TI TẠO RA NÓ ĐANG PHÁT TRIỂN MẠNH Ở ĐÂY

Monsanto đang mở rộng hoạt động tại một đất nước mà họ đã từng góp phần hủy diệt.

Dien Luong

30/08/2016 Cập nhật Ngày 31/10/2017

ẢNH KUNI TAKAHASHI VIA GETTY IMAGES. Một người lính Việt Nam đang bảo vệ khu vực bị nhiễm độc ở rìa sân bay Đà Nẵng vào ngày 1/7/2009 tại Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam. Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ đã tàng trữ hơn bốn triệu gallon thuốc diệt cỏ, trong đó có Chất độc màu da cam, tại căn cứ quân sự nay là căn cứ không quân và sân bay dân sự.

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Việt Nam – Vào tháng này năm mươi lăm năm trước, Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu phun hàng triệu gallon chất độc gây rụng lá, còn được biết đến dưới tên gọi Chất độc màu da cam, trên các vùng đất rộng lớn ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngày nay, thay vì oán giận và tránh xa Hoa Kỳ, đất nước này lại bị cuốn vào chứng sính Mỹ [Americanophilia].

Thành phố Hồ Chí Minh, từng là thủ đô của chế độ được Hoa Kỳ hậu thuẫn dưới tên gọi Sài Gòn, giờ đang đầy rẫy rất nhiều doanh nghiệp của McDonald và Starbucks. Trung tâm kinh tế hiện tại của Việt Nam cũng khoe khoang sự gia tăng các cửa hàng của Apple, nơi mà khách hàng lo lắng chờ đợi sự ra mắt của những chiếc iPhone mới nhất và thường được nhiều người ở đây coi là biểu tượng hợp thời trang của sự Mỹ hóa. Và với phần lớn dân số hơn 90 triệu người sinh ra sau năm 1975 (năm kết thúc chiến tranh), quần chúng có xu hướng nhìn về tương lai hơn là dai dẳng nghĩ về quá khứ cay đắng với người Mỹ.

Nhưng quá trình Mỹ hóa này và những gì báo hiệu điều đó, trong đó có sự mở rộng hoạt động của các công ty như công ty công nghệ sinh học khổng lồ Monsanto, có nguy cơ chôn vùi lịch sử Chất độc màu da cam được cho là đã gây thương vong cho hàng trăm ngàn người Việt Nam. Tiếp tục đọc

Sự giáng cấp xã hội

SỰ GIÁNG CẤP XÃ HỘI

Đấu tranh giai cấp đã nhường chỗ cho sự giáng cấp xã hội, một từ nay đã tràn ngập trí tưởng tượng xã hội của chúng ta. Phân tích một hiện tượng đại chúng.

François-Guillaume Lorrain(*)

Đầu năm nay, Hiệp Hội cho việc làm của cán bộ[1] (APEC) đã cho xuất bản công trình nghiên cứu sâu đầu tiên về cán bộ từ những dữ liệu xã hội đã được thu thập tại các công ty. Ta hãy ghi nhận một con số: gần 10% cán bộ có cảm tưởng là bị giáng cấp. Con số này xác nhận điều rằng 15 đến 20% của dân số có viêc làm từng tượng trưng cho sự tăng trưởng của Pháp cũng bị cuốn vào cái vòng xoắn ốc của sự suy thoái và sự bất ổn. Trước đây, cán bộ là một người được ưu đãi; ngày nay, đó không còn là một thành trì chống lại sự thất bại và sự lo sợ về sự rơi ngã (sụp đổ). Cái thang máy xã hội để bị giáng cấp đã thay thế cho cái thang máy xã hội để thăng tiến.

Từ đó nảy sinh ra ý muốn gợi lên sự khó khăn không chỉ liên quan đến các cán bộ mà còn đến một bộ phận lớn của dân số: sự giáng cấp. Tiếp tục đọc

Thị trường tài chính

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Financial Markets

Giải Nobel: MARKOWITZ, 1990 – MERTON, 1997 – MILLER, 1990 – SCHOLLES, 1997 – SHARPE, 1990

Thuật ngữ “thị trường tài chính” được dùng theo số ít hay số nhiều và không qui chiếu về những định chế chính xác, càng ít qui chiếu về những địa điểm mà về quá trình qua đó những cung và cầu tài trợ (còn gọi là những “nguồn lực tài chính” hay “tài sản tài chính”) ít nhiều trực tiếp đối mặt nhau.

Thị trường tài chính và tài chính trực tiếp đối lại ngân hàng thương mại và tài chính gián tiếp

Những nguồn lực thu được trên những thị trường tài chính từ những nhà đầu tư khác với những nguồn lực thu được theo logic tín dụng từ các ngân hàng. Thật vậy, trong truờng hợp những nguồn lực được tài trợ bằng tín dụng ngân hàng thì rủi ro được biểu trưng bằng người đi vay có mặt trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng (hay nhiều ngân hàng, nếu đó là một giao dịch trên những số tiền lớn). Cho nên những nguồn lực tài chính được huy động từ bên nợ của những bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng nhằm đối phó với những rủi ro có thể xảy ra và như thế phòng hộ cho những kí gởi trong các ngân hàng trước rủi ro mà ngân hàng gánh chịu vì hoạt động tín dụng của mình.

Việc các ngân hàng “biến đổi” những kí gởi thành tín dụng dựa trên những phương thức đặc biệt để chọn lọc hồ sơ và người đi vay. Còn việc tài trợ thông qua những thị trường tài chính theo một logic và những phương thức khác với những phương thức của tài trợ ngân hàng; sự khác biệt này làm cho Gurley và Shaw phân biệt, bằng một ngữ vựng biểu cảm, “tài chính gián tiếp” (hay ngân hàng) với “tài chính trực tiếp” (hay tài chính thông qua những thị trường tài chính). Tiếp tục đọc