Kế hoạch triệt để nhằm thay đổi cách thức Harvard giảng dạy kinh tế học

KẾ HOẠCH TRIỆT ĐỂ NHẰM THAY ĐỔI CÁCH THỨC HARVARD GIẢNG DẠY KINH TẾ HỌC

Tác giả: Dylan Matthews | dylan@vox.com

Nhà kinh tế học Raj Chetty đứng trước Khoa Kinh tế, trong khuôn viên Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts. Ảnh: Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Raj Chetty có ý tưởng nhằm giới thiệu với sinh viên về nhập môn kinh tế học, ý tưởng này có thể thay đổi lĩnh vực kinh tế học – và xã hội.

Nếu Harvard có một khóa học nổi tiếng nhất thì đó là môn Kinh tế học 10 (viết tắt là Ec 10).

Lớp kinh tế học nhập môn được tin cậy cho là một trong những khóa học phổ biến nhất dành cho sinh viên đại học. Môn này thường được giảng dạy ở hội trường lớn Hogwarts, nơi hàng trăm sinh viên đang chăm chú ghi chép hoặc nghịch máy tính xách tay khi một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng của trường hướng dẫn họ những kiến thức cơ bản về cung và cầu.

Bởi vì Harvard có xu hướng đặt khuôn mẫu cho các trường đại học khác, nên sách giáo khoa của môn Ec 10 là một cuốn sách bán chạy nhất, được sử dụng tại hàng chục trường khác, thu về cho tác giả của nó, giáo sư Greg Mankiw, ước tính khoảng 42 triệu đô la tiền bản quyền kể từ khi sách được phát hành lần đầu tiên vào năm 1998. Nhập môn Kinh tế học của Mankiw đã tạo ra tiếng vang không chỉ ở Harvard mà còn về cách thức môn Econ 101 được giảng dạy trên toàn quốc.

Greg Mankiw (thứ tư từ trái sang) là thành viên trong nhóm cố vấn kinh tế của Tổng thống George W. Bush vào năm 2003. Ảnh Gerald Herbert/AP

Sách giáo khoa của Mankiw bao gồm lý thuyết trừu tượng làm nền tảng cho kinh tế học như nó đã được hiểu trong nhiều thập kỷ. Đó là về cung và cầu, về cách thức giá cả có thể được sử dụng để việc sản xuất một món hàng được phù hợp với mức tiêu thụ của món hàng đó, và về sức mạnh của thị trường như một công cụ để phân bổ các nguồn lực khan hiếm. Sinh viên học môn Ec 10 được yêu cầu vẽ các đường cung và cầu, giải các vấn đề từ ngữ đơn giản về điều gì sẽ xảy ra khi thị trưởng của Smalltown, Hoa Kỳ, đánh thuế phòng khách sạn.

Ý tưởng là nhằm truyền đạt một lý thuyết cơ bản, đặt nền tảng để hiểu cách thức vận hành của xã hội. Và lý thuyết đó ngụ ý mạnh mẽ rằng thị trường có xu hướng hoạt động mà không cần can thiệp nhiều, và những thứ như mức lương tối thiểu có thể gây hại nhiều hơn là giúp ích.

Nhưng một nhà kinh tế học Harvard khác lại có một ý tưởng khác lạ về cách giới thiệu kinh tế học cho sinh viên.

Raj Chetty, một giảng viên nổi tiếng mà Harvard vừa tuyển mộ từ Stanford về, hồi đầu năm nay ông vừa vén màn bí mật của môn: “Kinh tế học 1152: Sử dụng Dữ liệu lớn để giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội”. Ông đã giảng dạy với sự giúp đỡ của giảng viên Greg Bruich, lớp học đã thu hút được 375 sinh viên, trong đó có 363 sinh viên năm đầu đại học, trong học kỳ đầu tiên. Con số đó vẫn kém hơn con số 461 sinh viên ở môn Ec 10 – nhưng không nhiều.

Raj Chetty phát biểu tại hội trường của Harvard trong môn học Econ 1152, vào ngày 23/04/2019. Ảnh: Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Các khóa học không thể khác hơn. Chetty đã thành danh như một nhà kinh tế học thực nghiệm, làm việc với một nhóm nhỏ các đồng nghiệp và trợ lý nghiên cứu để cố gắng có được những phát hiện trong thế giới thực có liên quan đến các câu hỏi chính trị lớn. Và ông tập trung vào gốc rễ và hệ quả của bất bình đẳng chủng tộc và bất bình đẳng kinh tế. Ông đã sử dụng một lượng lớn dữ liệu thuế IRS để lập bản đồ bất bình đẳng về cơ hội ở Hoa Kỳ xuống đến tận cấp độ khu cư trú, và cho thấy rằng trẻ em trai da đen nói riêng ít được hưởng nhiều từ việc dịch chuyển lên vị thế xã hội cao hơn so với trẻ em trai da trắng.

Ec 1152 là phần mở đầu cho loại hình kinh tế học đó. Chỉ có một ít cuộc thảo luận về đường cung và đường cầu, về thặng dư của người sản xuất hoặc người tiêu dùng, hoặc các khái niệm cơ bản khác được giới thiệu trong các lớp học như Ec 10. Không có sách giáo khoa, chỉ có một tập hợp các bài viết thực nghiệm. Tài liệu học tập tương đối tiên tiến. Trong số 12 bài viết mà sinh viên phải đọc, 11 bài được phát hành vào năm 2010 hoặc sau đó. Một nửa số bài viết trong khóa học của sinh viên đã được công bố vào năm 2017 hoặc 2018. Chetty là đồng tác giả của một phần ba trong số các bài viết đó.

Và trong khi hầu hết các khóa học kinh tế tại Harvard đều yêu cầu điều kiện tiên quyết là phải học xong môn Ec 10, thì môn Ec 1152 lại không yêu cầu. Sinh viên năm nhất có thể coi đó là khóa học kinh tế đầu tiên của họ.

Chetty cho biết: “Tôi ngày càng cảm thấy những gì chúng tôi đang làm trong văn phòng của mình và nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn tách rời khỏi những gì chúng tôi đang giảng dạy trong các lớp học nhập môn.” Ông cũng nói: “Tôi nghĩ đối với nhiều sinh viên, đại loại là ‘Tại sao tôi muốn tìm hiểu về điều này? Vấn đề ở đây là gì?’”

Ông tiếp tục: “Nó rất khác với khoa học, khi còn bé, bạn có cảm nhận, nó có thể không chính xác lắm, nhưng mọi người cố gắng chữa khỏi bệnh ung thư.” Ông muốn mang đến cho sinh viên cảm nhận về một loại kinh tế học có tác dụng chữa trị: chữa trị bất bình đẳng, xác định và sửa chữa các cách tiếp cận không tốt.

Nếu đây chỉ là một sự thay đổi sư phạm ở Harvard, đó sẽ là một chuyện. Nhưng Chetty đang hướng tới việc biến khóa học thành một mô hình cho các trường học khác. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, nhiều nhà kinh tế đã kết luận rằng môn Econ 101 đã bị phá vỡ trong toàn bộ hệ thống trường đại học và môn học này không chuẩn bị cho sinh viên được sẵn sàng trước một thế giới mà thị trường thường xuyên thất bại. Lớp học của Chetty mang đến một phương pháp mới để dạy một khóa học nhập môn, nhưng đồng thời cũng phù hợp hơn với những đặc điểm của nghiên cứu kinh tế đương đại. Các video bài giảng của khóa học đã có sẵn trực tuyến để sinh viên tại các cơ sở khác sử dụng.

Sự chuyển đổi đó có thể thay đổi bản thân kinh tế học, bằng cách thu hút một nhóm sinh viên mới, những người bị hấp dẫn bởi chủ nghĩa kinh nghiệm mới của lĩnh vực này, chứ không bị cản trở bởi việc lạm dụng quá mức mô hình toán học và lý thuyết cao siêu. Nó có thể làm cho các khoa kinh tế trở nên đa dạng hơn và cởi mở hơn với những quan điểm mới từ phụ nữ và sinh viên da màu.

Nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ Jianglong Li theo dõi bài giảng của Raj Chetty về Kinh tế học 1152. Ảnh: Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Nó cũng có thể thay đổi xã hội rộng lớn hơn. Các khóa học về Kinh tế học 101 thường là cách duy nhất của nhiều sinh viên đại học để tiếp xúc với tư duy kinh tế – và đặc biệt là ở một nơi như Harvard, những sinh viên đó trưởng thành để điều hành các tổ chức văn hóa, chính trị và tài chính lớn. Nếu sự nhập môn của họ về kinh tế học tránh được lý thuyết khô khan về cung và cầu và thay vào đó nhấn mạnh tầm quan trọng của bất bình đẳng chủng tộc và bất bình đẳng kinh tế, điều đó có thể gây ra những gợn sóng lâu dài trong giới học thuật, chính phủ và doanh nghiệp.

Gặp Raj Chetty

Raj Chetty có dáng người mảnh khảnh, kiệm lời và như một “con mọt sách”. Ông làm việc tại một văn phòng nhỏ trên Đại lộ Massachusetts, cách xa tòa nhà chính của Khoa Kinh tế. Trên chiếc bảng trắng của ông có ghi rải rác các phương trình đi lạc từ một bài viết sắp công bố.

Ông không có nhiều kinh nghiệm về kinh tế học nhập môn trước khóa học. Ông đã có một lợi thế khi vào Harvard năm 1997 nhờ cha của ông, V.K. Chetty, một nhà kinh tế người Mỹ gốc Ấn, người đã cố vấn cho chính phủ của Indira Gandhi.

James Heckman (1944-)
Larry Summers (1954-)

“[Cha tôi] đã thực hiện một loạt việc bãi bỏ quy định khi Ấn Độ chuyển từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hơn,” Chetty nhớ lại khi kể về người cha. “Bất cứ khi nào tôi gặp [nhà kinh tế học được giải Nobel] Jim Heckman, ông ấy sẽ nói, ‘Tôi đã từng biết bạn từ khi bạn 2 tuổi,’ và sau đó bắt đầu phê bình bài viết của tôi.”

Chetty đã không học môn Ec 10 khi ông còn là một sinh viên Đại học tại Harvard. Ông bỏ qua chương trình học thông thường và dành phần thời gian còn lại của mình khi còn là một sinh viên đại học để học các môn lý thuyết ở cấp cao học. Ông tốt nghiệp trong ba năm, lấy bằng tiến sĩ tại Harvard trong ba năm tiếp theo (ở tuổi 23 chín muồi), và vào biên chế tại UC Berkeley ở tuổi 27. Ông chuyển đến Harvard năm 29 tuổi, và giống như Larry Summers là một trong số hiếm người vào biên chế giáo sư của Đại học Harvard trước khi bước sang tuổi 30. Ông đã nhận Huy chương John Bates Clark, được trao hàng năm cho nhà kinh tế học xuất sắc nhất của Mỹ dưới 40 tuổi, khi mới 33 tuổi.

Raj Chetty tại văn phòng của Opportunity Insights, nhóm nghiên cứu của ông tại Harvard. Ảnh: Kayana Szymczak cho Vox

Ông đã trở thành một nhân vật thực sự của công chúng với việc công bố vài bài viết vào năm 2014 lập bản đồ tính cơ động kinh tế – được đo bằng mối tương quan giữa thu nhập của mọi người và thu nhập của cha mẹ họ – trên khắp Hoa Kỳ, xuống tới cấp độ khu cư trú. Các bài viết của Chetty đã nhận được những bài báo nhận xét nồng nhiệt trên New York TimesWashington Post.

Emmanuel Saez (1972-)
Nathaniel Hendren

Vì Chetty và các đồng tác giả của ông (Nathaniel Hendren của Harvard, Emmanuel Saez và Patrick Kline của Berkeley) đã đăng tất cả dữ liệu của họ lên mạng – do đó cho phép những người khác tự tiến hành phân tích và xem những yếu tố nào dự đoán tính cơ động xã hội – điều này đã nhanh chóng định hướng lại cuộc tranh luận về bình đẳng cơ hội trong các cơ quan tư vấn ở cả cánh hữu và cánh tả. Những người bảo thủ lập luận rằng điều đó cho thấy cha mẹ đơn thân làm tổn hại đến khả năng cơ động; Trung tâm Tiến bộ của Hoa Kỳ đã sử dụng dữ liệu này để lập luận rằng các công đoàn đang cải thiện khả năng cơ động này.

Patrick Kline

Kể từ đó, việc công bố một bài viết của Chetty – hoặc một bài viết khác từ Opportunity Insights, nhóm nghiên cứu Harvard nơi ông làm giám đốc – tự nó đã trở thành một sự kiện thời sự. Thời báo New York thường tạo ra những tương tác từ những tờ báo lớn, bao gồm những mẩu tin có tính lan truyền mạnh mẽ cho phép bạn thấy những người từ khu phố thời thơ ấu của bạn có thu nhập bao nhiêu, những cậu bé da đen bị bỏ rơi ngoài lề công cuộc tăng trưởng kinh tế như thế nào, và có bao nhiêu người thuộc nhóm 1% thu nhập cao nhất và 20% thuộc nhóm thu nhập thấp nhất từng học đại học cũ của bạn.

Do đó Chetty đã trở thành một kiểu nhà kinh tế học kỳ lạ thường giáp mặt công chúng. Ông đã trở thành một nhân vật nổi bật bên ngoài lĩnh vực của mình mà không cần thực sự cố gắng để trở thành một nhà bình luận của công chúng như cách của Paul Krugman, Milton Friedman, hay John Kenneth Galbraith trước đây. Danh tiếng của ông, trong số những người ngoài ngành cũng như các nhà kinh tế, hầu như hoàn toàn dựa vào công trình nghiên cứu của ông, chứ không phải dựa vào những tuyên bố của ông về chính sách hay các bài ý kiến độc giả.

Công việc của ông có ý nghĩa chính trị, nhưng ông tránh tự mình đưa ra các đề xuất chính sách dứt khoát. Trong khi Hillary Clinton và Jeb Bush có tham khảo ý kiến ​​không chính thức của ông trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm 2016, ông chưa bao giờ nhận công việc cố vấn chính phủ.

Độ tin cậy mang tính cách mạng

Janet Yellen (1946-)
Paul Krugman (1953-)

Nếu Chetty là người ủng hộ cho bất cứ điều gì, thì đó là quan điểm cho rằng kinh tế học là một bộ môn thực nghiệm, một ngành khoa học cũng giống như y học. Trong một bài ý kiến độc giả hiếm hoi trên tờ New York Times vào năm 2013, ông nhấn mạnh rằng những tranh cãi giữa các nhà kinh tế học hơi khác với những bất đồng giữa các bác sĩ về việc, chẳng hạn như, liệu cà phê có hại cho bạn không – và rằng ngành kinh tế ngày càng căn cứ nhiều hơn vào bằng chứng. Mặc dù theo truyền thống, nó là một ngành học mang tính lý thuyết cao, không có nhiều lý thuyết nhằm kiểm tra bằng chứng, và ngày nay tình trạng đó đã thay đổi.

Ông viết: “Trong những thập kỷ trước, các nhà kinh tế học nổi bật nhất là những nhà lý thuyết như Paul Krugman và Janet L. Yellen, những người có mô hình tiếp tục hướng dẫn tư duy kinh tế”.

David Card (1956-)
Esther Duflo (1972-)

Điều đó đã thay đổi, ông nhận xét. Những người nổi tiếng hiện nay là “các nhà thực nghiệm như David Card của Đại học California, Berkeley và Esther Duflo của Học viện Công nghệ Massachusetts”, hai người đã tạo nên tên tuổi của mình lần lượt với các nghiên cứu thực nghiệm cẩn trọng về thị trường lao động và các nền kinh tế đang phát triển.

Sự chuyển đổi mà ông đang mô tả được gọi là “cuộc cách mạng về độ tin cậy” trong kinh tế học. Bài viết năm 2010 phổ biến thuật ngữ này đã trích dẫn lời nhà kinh tế học Edward Leamer đã nói vào năm 1983, “Hầu như không ai coi trọng việc phân tích dữ liệu. Hay có lẽ chính xác hơn, hiếm ai coi trọng việc phân tích dữ liệu của bất kỳ người nào khác”.

Alan Krueger (1960-2019)
Joshua Angrist (1960-)

Phân tích dữ liệu quá chủ quan, dễ dàng đưa ra kết luận được lựa chọn trước của chính mình, và cảm thấy gần như vô dụng. Sau đó, một thế hệ các nhà kinh tế học mới – như Card, Alan Krueger quá cố, Joshua Angrist của MIT, và nhiều người khác – đã tự mình thay đổi hiện trạng đó, bằng cách áp dụng cẩn thận các thiết kế nghiên cứu có khả năng xác định nhân quả tốt hơn (không chỉ tương quan), và tập trung nhiều vào các thực nghiệm thực tế và bán thực nghiệm, khi ta có thể thấy rõ hơn yếu tố nào đang gây ra hiện tượng gì.

Sinh viên năm thứ ba, Eric Cheng, đi ngang qua chân dung của các cựu giáo sư trong Khoa Kinh tế Đại học Harvard. Ảnh: Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Abhijit Banerjee (1961-)
Emi Nakamura (1980-)

Các nhà kinh tế học như Duflo và Abhijit Banerjee đã thực hiện cuộc cách mạng đối với kinh tế học phát triển bằng cách nhấn mạnh vào việc sử dụng các thực nghiệm ngẫu nhiên. Gần đây hơn, các nhà kinh tế học như Emi Nakamura (người nhận Huy chương Clark gần đây nhất) đã đưa thực nghiệm ngẫu nhiên vào kinh tế học vĩ mô, theo truyền thống thì đây là ngành kinh tế học lý thuyết nhất và ít thực nghiệm nhất, và một ngành có những hạn chế đã trở nên đầy tai tiếng sau cuộc Đại suy thoái.

Không phải là không có ai chỉ trích cuộc cách mạng này. Russ Roberts, một nhà kinh tế học tại Hoover Institution và là người dẫn chương trình podcast – phát thanh qua mạng internet – nổi tiếng EconTalk, đã viết một bài viết có ảnh hưởng vào năm 2017 bác bỏ việc chuyển sang nghiên cứu thực nghiệm vì như thế là đẩy ngành học này sa lầy vào các tranh cãi khó giải quyết được về việc đọc dữ liệu. Ông cảnh báo: “Các con số không tự nói được.” Có quá nhiều con số. Chúng ta cần một số loại lý thuyết để giúp chúng ta quyết định chúng ta cần lắng nghe những con số nào. Không thể tránh khỏi, những thành kiến ​​và động cơ của chúng ta đã ảnh hưởng đến những con số mà chúng ta nghĩ đó là những con số có tiếng nói lớn nhất.” Ông tố cáo hầu hết các nhà kinh tế thực nghiệm chỉ là “những nhà thống kê ứng dụng”.

Russ Roberts (1954-)
Tyler Cowen (1962-)

Nhưng những người như Roberts đang ở thế phòng thủ. Đồng nghiệp ở George Mason của ông, Tyler Cowen, người theo chủ nghĩa truyền thống, nói với tôi rằng ông rất hào hứng với lớp học. “Tôi ủng hộ thực nghiệm, và hơn thế nữa trong học thuật, và vì lý do đó tôi chấp thuận,” ông viết. “Tất nhiên đó không phải là những gì tôi làm, đó là vi mô truyền thống hơn, nhiều lý thuyết hơn, ít trùng lặp hơn với xã hội học. Nếu có giảng viên tuyệt vời, thì đó thực sự là điều quan trọng”.

Và Chetty đã làm được nhiều điều hơn bất cứ ai để điều chỉnh lại quan niệm của công chúng về kinh tế học như một loại kinh tế mà cuộc cách mạng về độ tin cậy đã tạo ra: một loại kinh tế học của những nghiên cứu thực nghiệm tiến bộ, cẩn trọng chứ không phải những lý thuyết bao quát.

Cuộc chiến giành môn học Econ 101

Và bây giờ cuộc cách mạng về độ tin cậy đã đến với Econ 101.

Trong nhiều thập kỷ nay, khóa học nhập môn kinh tế học của Harvard đã được giảng dạy bởi một trong hai cựu chiến binh trong các đời tổng thống của Đảng Cộng hòa: Martin Feldstein, cố vấn học tập ở đại học của Chetty, hoặc Greg Mankiw, nhà kinh tế trưởng của George W. Bush.

Feldstein, từ lâu được đồn đại là một trong những nguồn cảm hứng cho Ông Burns trong The Simpsons, đã dẫn dắt khóa học từ năm 1984 đến năm 2005, khi ông giao nó cho Mankiw; cả hai đều bắt đầu dẫn dắt khóa học khi trở lại Harvard sau thời kỳ làm chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Nhà Trắng.

Giáo sư Martin Feldstein giảng bài buổi cuối cùng của môn Ec 10 tại Harvard vào ngày 4 tháng 5 năm 2005. Ảnh Suzanne Kreiter/The Boston Globe qua Getty Images

Feldstein và Mankiw là những nhà lãnh đạo hoàn hảo cho khóa học. Cả hai đều viết thường xuyên cho độc giả bình dân và có phần không chính thống đối với đảng Cộng hòa. Feldstein trở thành kẻ cáu kỉnh trong Nhà Trắng của Reagan khi than phiền về thâm hụt ngân sách tăng vọt và yêu cầu tăng thuế nếu việc cắt giảm của Reagan tiếp tục tăng thêm nợ. Mankiw là một người ủng hộ cho thuế carbon một cách đáng chú ý và đã ký vào một bản tóm tắt của Tòa án Tối cao ủng hộ hôn nhân đồng giới.

Vì vậy, họ không phải là những người có ảnh hưởng mà hoàn toàn xa lạ đối với đa số sinh viên theo cánh trung tả, nhiều sinh viên hướng đến sự nghiệp trong lĩnh vực tài chính và tư vấn. Họ có thể gặp các lớp học ở mức trung lập và trình bày về kinh tế học nhập môn theo cách phản ánh thế giới quan của họ nhưng vẫn có thể tiếp cận được với nhóm sinh viên thiên tả.

Quá trình khóa học của Mankiw dựa vào sách giáo khoa của chính ông (gần đây nhất là phiên bản trực tuyến, có giá khá cao là 132 đô la), bản thân điều này đã gây ra một số sự kinh ngạc. Đó là một chương trình giảng dạy rất truyền thống. Trọng tâm là ý tưởng rằng chi tiêu của người tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh dịch chuyển cho đến khi bạn đạt đến trạng thái cân bằng, nơi nhu cầu của cả hai bên được đáp ứng một cách hiệu quả. Cuốn sách có thảo luận về các thị trường không có tính cạnh tranh, khi độc quyền và quyền lực của người sử dụng lao động dịch chuyển kết quả đầu ra ra khỏi trạng thái cân bằng “tự nhiên” và hướng tới các kết quả thuận lợi hơn cho các công ty, nhưng chúng là một ngoại lệ đối với tiêu chuẩn ngầm của thị trường cạnh tranh.

Do đó, một hàm ý tự nhiên là việc can thiệp vào hoạt động cạnh tranh của thị trường thường gây hại nhiều hơn lợi. Ví dụ, cuộc thảo luận của Mankiw về mức lương tối thiểu nhấn mạnh nhiều vào ý tưởng rằng mức lương tối thiểu gây ra thất nghiệp. “Nếu chính phủ không can thiệp, tiền lương thường sẽ tự nhiên điều chỉnh để cân bằng cung lao động và cầu lao động,” ông viết, giới thiệu biểu đồ dưới đây, kết luận, “Kết quả [của mức lương tối thiểu] là thất nghiệp.”

Cách thức sách giáo khoa Ec 10 truyền thống giải thích về tiền lương tối thiểu. Nguyên lý kinh tế học/N. Gregory Mankiw

Đó là một ví dụ nhỏ, nhưng có nhiều ví dụ khác xuyên suốt cuốn sách và do đó trong cả lớp. Chương tám của sách giáo khoa của Mankiw là một cuộc khám phá dài về các chi phí kinh tế của việc đánh thuế.

Stephen Marglin (1938-)
Thorstein Veblen (1857-1929)

Trong những năm qua, Ec 10 đã gây ra sự bất đồng đáng kể từ phía cánh tả. Từ năm 2003 đến năm 2010, Stephen Marglin đã giảng dạy một bài nhập môn mang tính thiên tả, không chính thống, theo một cách khác về kinh tế học tại Harvard. Marglin đã từng là một nhà lý thuyết kinh tế chính thống vững chắc và khá phi thường. Nhưng chẳng bao lâu sau khi vào biên chế, vào một lần trong số những trò đùa thực sự vĩ đại trong lịch sử học thuật, ông đã trở thành người ủng hộ triệt để việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. Trong một vài bài viết có ảnh hưởng ngay sau đó có tiêu đề “Các ông chủ làm gì?” câu trả lời của ông về cơ bản là “ăn cắp của công nhân”.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Lớp học của Marglin đồng thời giới thiệu và phê bình các giả định cơ bản của kinh tế học chính thống. Các bài đọc bắt buộc đối với sinh viên kết hợp các văn bản cổ điển như Lý thuyết về xã hội tiêu dùng của Thorstein Veblen và Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Dân chủ của Joseph Schumpeter với nhiều bài định tính hơn như Zen và Nghệ thuật bảo dưỡng xe máy và một bài viết về tầm quan trọng của cộng đồng trong văn hóa Amish. Không có gì ngạc nhiên khi lớp học không có bất kỳ sự ủng hộ nào từ những người còn lại trong Khoa Kinh tế. Marglin đã cùng với một đồng nghiệp duy nhất bỏ phiếu để khóa học được liệt kê vào danh mục của Khoa Kinh tế; cuối cùng, môn học này thậm chí không được tính là một môn học của chuyên ngành kinh tế.

Phiên bản Chetty của Econ 101

Chetty không phải là giảng viên bị bỏ rơi của Khoa Kinh tế như Marglin; ông thực sự là một trong những thành viên được yêu mến nhất của khoa. Nhưng Kinh tế học 1152, so với khóa học của Marglin, là một sự chuyển hướng không kém tham vọng để thoát khỏi môn kinh tế học nhập môn tiêu chuẩn.

Đọc qua sách giáo khoa về nhập môn kinh tế học của Mankiw, người ta có cảm giác rằng kinh tế học là nghiên cứu về cung và cầu. Đọc qua chương trình môn Economics 1152 của Chetty, người ta có một cảm nhận rất khác về lĩnh vực này. Kinh tế học mà ông mô tả, về cơ bản, là một loại thống kê ứng dụng, một nỗ lực sử dụng dữ liệu định lượng để trả lời các câu hỏi về xã hội.

Chetty không ghét lý thuyết. Phần lớn công việc của ông được thúc đẩy bởi mong muốn khám phá và kiểm tra các lý thuyết phổ biến; công việc của ông về khả năng hiển thị thuế thương vụ đã thách thức giả định rằng người tiêu dùng kết hợp một cách hợp lý chi phí của tất cả các loại thuế và công trình của ông về tiết kiệm để hưu trí đã thách thức ý tưởng rằng trợ cấp cho hành vi này nhất thiết phải sẽ làm cho quỹ tiết kiệm được tăng thêm. Một số công trình ban đầu của ông, như một bài viết về ảnh hưởng của lãi suất đối với đầu tư doanh nghiệp, liên quan đến việc xây dựng mô hình nhiều hơn là thu thập bằng chứng.

Chetty nói với tôi trong văn phòng của ông rằng: “Có một quan điểm xem kinh tế học là việc nghiên cứu về giá cả và thị trường, và các biện pháp động viên. Và cho rằng kinh tế học về cơ bản là thế.” “Tôi hiểu quan điểm này. Tôi xem quan điểm này như một trở ngại. Quan điểm này phụ thuộc vào việc bạn muốn xác định một trường dựa trên các câu hỏi hay dựa trên các công cụ của nó.”

Giáo sư Raj Chetty giải thích tác động của việc gia tăng bất bình đẳng về thu nhập trong lớp Economics 1152, vào ngày 23/04/2019. Ảnh Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Môn Kinh tế học 1152 về cơ bản là về các công cụ – học cách sử dụng công cụ, học khi nào nên sử dụng công cụ nào và học các công cụ có thể làm những gì và không thể làm những gì cho bạn. Và môn học này đào tạo sinh viên sử dụng những công cụ đó để nghiên cứu sự bất bình đẳng, cụ thể là: bất bình đẳng trong khu dân cư của họ, về nhà ở, về giáo dục, và hơn thế nữa. Thay vì có những vấn đề hàng tuần được sắp xếp thành từng bộ (phương pháp sư phạm tiêu chuẩn trong hầu hết các lớp nhập môn kinh tế học), Ec 1152 yêu cầu sinh viên hoàn thành bốn dự án lớn trong đó sinh viên trực tiếp phân tích dữ liệu.

Một dự án yêu cầu sinh viên kiểm tra dữ liệu về tính cơ động mà Chetty và các đồng tác giả của ông đã thu thập và xem mức độ cơ động khác nhau như thế nào trong và xung quanh quê hương của sinh viên. Một dự án khác yêu cầu sinh viên phân tích một thực nghiệm đang diễn ra có cung cấp phiếu mua nhà để khuyến khích các gia đình nghèo dọn đến các khu vực có cơ hội cao hơn.

Tôi đã rất ngạc nhiên về mức độ nghiêm ngặt của các dự án này. Nó không chỉ đòi hỏi kiến ​​thức về các phương pháp mà còn phải biết tại sao phải sử dụng các phương pháp cụ thể nào đó chứ không phải các phương pháp khác. Nếu Ec 10 dạy sinh viên các khái niệm kinh tế, thì Ec 1152 hướng đến việc dạy sinh viên làm kinh tế – hoặc ít nhất là kiểu kinh tế học mà Chetty và các đồng nghiệp của ông làm.

Và các khái niệm mà môn học truyền đạt hầu hết là các khái niệm từ cuộc cách mạng về độ tin cậy: về cách thức biết được từ dữ liệu rằng nguyên nhân nào đã gây ra điều gì, chứ không phải là cách thức dự đoán tác động của chính sách chính phủ từ một mô hình cung/cầu đơn giản.

Adam Looney
Kory Kroft

Vào tuần lễ mà tôi đến thăm lớp học (và tiết lộ đầy đủ, tôi đã nói chuyện với trung tâm nghiên cứu của Chetty trong khuôn viên trường), một phần lớn bài giảng của Chetty tập trung vào bài viết của ông với Adam Looney và Kory Kroft về tầm quan trọng của thuế thương vụ (sales tax, tương đương với thuế VAT – ND) khi họ cho niêm yết giá đã bao gồm thuế thương vụ mới trên mặt hàng, trên bàn chải tóc và đồ trang điểm tại một số cửa hàng tạp hóa ở California.

Bài viết kết luận – không có gì đáng ngạc nhiên đối với người dân thường nhưng có lẽ đáng ngạc nhiên đối với các nhà kinh tế chính thống hơn – rằng bao gồm thuế thương vụ vào giá khiến mọi người ít có khả năng mua các mặt hàng hơn. Chetty đã giải thích ngắn gọn tầm quan trọng thực sự của phát hiện này (nó cho thấy rằng người tiêu dùng không hoàn toàn duy lí và không phải lúc nào cũng tính đến những chi phí ẩn khi họ mua sắm).

Nhưng hầu hết cuộc thảo luận của Chetty trong bài viết là về phương pháp luận của ông, điều mà trong kinh tế học gọi là phương pháp tiếp cận “hiệu kép” (differences in difference hay DID). Điều quan trọng là mức doanh số của các sản phẩm không bị ảnh hưởng trong các cửa hàng thay đổi như thế nào từ khi bắt đầu (26,48 được bán mỗi tuần) đến cuối (27,32 được bán mỗi tuần) của thực nghiệm so sánh với mức doanh số của các sản phẩm bị ảnh hưởng với nhãn mới thay đổi như thế nào: từ 25,17 mỗi tuần đổi thành 23,87 mỗi tuần.

Các phần thảo luận cho lớp học, do các giảng viên là nghiên cứu sinh sau đại học của Chetty điều hành, đã góp phần đẩy quan điểm của họ tiến xa hơn. Michael Droste và John Macke, những sinh viên sau đại học mà tôi đã dự giờ thăm lớp, nhấn mạnh rằng công cụ hiệu kép là một kỹ thuật chung có thể được sử dụng trong các trường hợp ngay cả khi một thực nghiệm thực tế chưa được tiến hành.

Họ đã dạy sinh viên của họ những ý tưởng lớn. Nhưng đó là ý tưởng về những nguyên nhân nào gây ra điều gì – chứ không nói về cung và cầu.

John Macke, giảng viên là nghiên cứu sinh sau đại học, đang giám sát phần thảo luận tại lớp Kinh tế học 1152 của Raj Chetty. Ảnh Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Và lớp học cố gắng nói rõ những gì kinh tế học có thể và không thể làm được, nói với sinh viên về chính sách công. Nếu Ec 10 nói với sinh viên rằng mức lương tối thiểu là không hiệu quả, rằng thuế làm tổn hại đến tăng trưởng, thương mại tự do nâng tất cả các tàu thuyền, v.v., thì Ec 1152 cố gắng phân biệt rõ ràng giữa sự kiện thực nghiệm và giá trị đạo đức.

Chetty đề cập rằng ông đã từng thăm dò ý kiến ​​sinh viên của mình về mức thuế cao nhất nên là bao nhiêu. “Mức trung vị là 50 phần trăm; rất nhiều sinh viên nói là 60-70%,” Chetty nhớ lại. “Tôi [đã nói], bạn không nên đặt nặng sở thích của tôi về vấn đề đó. Hãy hiểu rõ: Đó là một đánh giá về giá trị.”

Ông nói rằng một sinh viên đã đến gặp ông sau bài giảng đó và nói, “Tôi thực sự đánh giá cao rằng thầy đã làm điều đó, thầy đã rất rõ ràng về giá trị là gì và điều gì chúng ta có thể cho là đúng.”

Kinh tế học cho mọi người

Có khả năng cao là những người trẻ trong lớp này sẽ trưởng thành để thực thi quyền lực đối với cuộc sống của bạn.

Chuck Schumer (1950-)

sáu cựu sinh viên Đại học Harvard trong Thượng viện, bao gồm cả Lãnh đạo thiểu số Chuck Schumer, và 11 cựu sinh viên trong Hạ viện Hoa Kỳ. Chánh án Tòa án Tối cao là một cựu sinh viên Đại học Havard. Mark Zuckerberg đã nói đùa về việc ngủ gục suốt buổi nghe giảng môn Ec 10. Theo một cuộc khảo sát trong khuôn viên trường của tờ báo sinh viên, 18% sinh viên tốt nghiệp Harvard làm công việc tư vấn, nơi họ có thể môi giới các kế hoạch tái cấu trúc khiến bạn mất việc làm và 18% khác đi vào lĩnh vực tài chính, nơi họ có thể khiến rất nhiều người mất việc làm.

Điều đó tạo nên sự thay đổi căn bản trong việc giảng dạy kinh tế của trường đại học. Điều quan trọng là không chỉ ở Harvard mà còn trên thế giới, theo quy tắc của giới lãnh đạo chính trị Mỹ, sinh viên tốt nghiệp Harvard được tin tưởng giao cho quản lý. Thật vậy, điều này có thể thay đổi những sinh viên Harvard được đưa vào con đường dẫn đến quyền lực.

Khi Chetty lần đầu tiên đưa ra một phiên bản thu nhỏ trong một thời gian ngắn ngủi với tư cách là giáo sư tại Stanford, ông đã nhận thấy một sự thay đổi lớn trong kiểu sinh viên mà ông đang thu hút. “Tôi nhớ rất rõ ở Stanford, và nó cũng đã xảy ra ở đây, có ba phụ nữ Mỹ gốc Phi trong giờ hành chính của tôi, chẳng hạn, trong lớp học này,” ông nhớ lại. “Nói chung trong các lớp kinh tế học, bạn không có hiện tượng này.”

Các con số thể hiện điều đó. Bốn mươi chín phần trăm sinh viên là phụ nữ, so với 38 phần trăm cho toàn bộ các lớp kinh tế học (và 40,5 phần trăm cho học kỳ thứ hai của Ec 10). “Về các khía cạnh khác, chúng tôi đã kiểm tra – ví dụ: chủng tộc và thu nhập của cha mẹ – khóa học trông khá giống với các lớp khác ở Khoa Kinh tế và trong Trường Đại học,” Chetty giải thích trong một email. Nhưng sinh viên da màu, và có thu nhập của cha mẹ thấp hơn, tìm thấy nhiều điều để kết nối trong chương trình học.

Sinh viên năm thứ hai, Jaide Talmadge, cho biết cô đang tham gia khóa học của Chetty để xem xét các vấn đề công bằng xã hội từ góc độ kinh tế. Ảnh Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Naomi Vickers, một sinh viên năm thứ hai, đã ghi lại kinh nghiệm của gia đình mình với sự phân biệt đối xử ở Richmond, Virginia, trong dự án đầu tiên của cô ấy cho lớp học.

Cô nhận thấy dữ liệu có liên quan ngay đến lịch sử cá nhân của mình. Cô lưu ý rằng nghiên cứu địa lý của Chetty đã phát hiện ra rằng nhiều gia đình nghèo di chuyển giữa các khu vực láng giềng đều có cơ hội thấp, chứ không phải từ khu vực có cơ hội thấp đi đến khu vực có cơ hội cao.

“Khi tôi xem xét những nơi tôi đã chuyển đến, tôi thấy rằng gia đình tôi khá phù hợp với xu hướng này,” cô nhớ lại. “Chúng tôi từng chuyển đến các khu vực khác, tương tự cũng có tính cơ động thấp.”

“Tôi lớn lên và nghe kể về bà của tôi là một trong những người da đen đầu tiên có thể mua một ngôi nhà ở East End bởi vì quy định của liên bang – tiếp theo là sự phân biệt đối với khu vực tư nhân – đã buộc thị trấn phải phân chia theo chủng tộc,” cô viết trong dự án của cô, hiển thị sự phân chia bằng cách sử dụng bản đồ vẽ trên cơ sở dữ liệu về các chính sách phân biệt đối xử (redlining).

Cô cho thấy sự phân chia tương tự giữa tuổi thơ trong nội ô thành phố và gần ngoại ô bộc lộ ra sao khi bạn tìm hiểu dữ liệu của Chetty: “bất kể chủng tộc hay thu nhập, trẻ em lớn lên ở các quận xung quanh có khả năng theo trung bình cơ động đi lên cao hơn nhiều so với trẻ em lớn lên ở thành phố tỉnh lẻ.”

Vickers học tập trung về kinh tế học nhưng trước đây đã không thể kết nối lịch sử cá nhân của cô với bài học như thế này – mặc dù cô ấy và một số bạn học da đen đã theo ngành kinh tế học nhằm đặc biệt khám phá các vấn đề xung quanh bất bình đẳng, công bằng chủng tộc và tính cơ động.

Kayley Elizabeth Miller, người tham gia phiên bản đầu tiên của khóa học tại Stanford, cũng thấy việc sử dụng tài liệu để tìm hiểu về cội nguồn của mình. “Tôi đến từ Tây Virginia – ở Stanford, không có nhiều sinh viên đến từ Tây Virginia,” cô nói. “Và trong rất nhiều nghiên cứu này, chúng tôi nhận ra rằng sinh viên nông thôn rất ít được tiếp cận với giáo dục đại học”.

Vì vậy, sau khóa học, Miller đã bắt đầu một nhóm có tên là Project KEY nhằm mục đích cung cấp dịch vụ tư vấn đại học cho sinh viên ở Tây Virginia. Và, giống như những gì cô đã học được trong lớp của Chetty, cô sắp xếp ngẫu nhiên lớp học nào sẽ nhận tư vấn, cô khảo sát sinh viên và hy vọng sử dụng dữ liệu để có được một thước đo thực nghiệm đúng sự thật về tác động của chương trình của cô.

Cô có một trường để đối chứng và các trường để xử lí (tư vấn – ND) và các phòng học để đối chứng và xử lí tại các trường học. “Tôi tìm kiếm hiệu ứng lan tỏa giữa các trường, chỉ cần sinh viên nói về nó. Và sau đó suốt trong năm, tôi đã xem xét dữ liệu hành chính của các năm trước ở các trường học.”

Với một chút tự hào, cô ấy nói với tôi, “Nhóm trở nên khá mạnh mẽ.”

Vickers và Miller chỉ là hai sinh viên trong số hàng trăm sinh viên – bao gồm nhiều người có thể chưa bao giờ học kinh tế nếu không có lớp học. Chetty nhấn mạnh rằng lớp học của ông không phải là sự thay thế thuần túy cho Ec 10. Ông lập luận rằng các sinh viên đang theo học lớp của ông để bổ sung cho môn Ec 10.

David Laibson (1966-)
Jason Furman (1970-)

Ec 10 cũng đã tự phát triển và sẽ tiếp tục phát triển. Jason Furman, cựu kinh tế gia trưởng của Obama, người sẽ cùng với đồng nghiệp David Laibson, tiếp quản Ec 10 từ Mankiw vào mùa thu này, cho biết ưu tiên là cho sinh viên thấy rằng “các nhà kinh tế học nghiên cứu bất bình đẳng về thu nhập, nhà kinh tế học nghiên cứu về giới, nhà kinh tế học nghiên cứu về chủng tộc, và mang tất cả các chủ đề đó vào lớp học.” Ông cũng công nhận Mankiw nhờ vào việc ông ấy đã di chuyển đường cong của Ec 10 để phù hợp với đường cong của các lớp Harvard khác đông sinh viên, dựa trên nghiên cứu cho thấy việc chấm điểm khó khăn một cách không cần thiết đối với các lớp kinh tế học đã không khuyến khích phụ nữ theo học một cách tương xứng.

Nhưng Ec 1152 rõ ràng đã tiếp cận một phần sinh viên mà Ec 10 đã từng không tiếp cận được theo cách tương tự. Và nó chỉ ra cách thức dạy kinh tế học nhập môn như một bài giới thiệu để làm kinh tế – chứ không chỉ quan sát nó từ xa.

Khuôn viên Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts. Ảnh Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

ĐÍNH CHÍNH: Đoạn này ban đầu nói rằng Russ Roberts dạy tại George Mason; vào năm 2012, ông đã chuyển đến Hoover Institution. Chúng tôi rất tiếc về sự nhầm lẫn này.

Người dịch: Lê Thị Hạnh

Nguồn: The radical plan to change how Harvard teaches economics“, Vox, 22.5.2019.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.