Tiền dễ vay hay trợ cấp vàng? Tích hợp kinh tế học với tâm lí học

TIỀN DỄ VAY HAY TRỢ CẤP VÀNG? TÍCH HỢP KINH TẾ HỌC VỚI TÂM LÍ HỌC

Nhà kinh tế học người Mỹ Richard H. Thaler là một [trong những] người tiên phong trong kinh tế học hành vi, một lĩnh vực nghiên cứu trong đó những hiểu biết sâu sắc từ nghiên cứu tâm lí được ứng dụng vào quá trình ra quyết định kinh tế. Quan điểm về hành vi là quan điểm kết hợp những phân tích thực tế về cách con người suy tư và hành xử trong khi ra các quyết định kinh tế, nó tạo ra những cơ hội mới trong việc thiết kế các biện pháp và thể chế nhằm làm gia tăng lợi ích xã hội.

Richard Thaler (1945-)

Kinh tế học có mối liên hệ với việc thấu hiểu hành vi của con người trong các tình huống ra quyết định kinh tế và trong thị trường. Con người là những sinh vật phức tạp, và ta phải đưa ra những giả định đơn giản nếu muốn xây dựng các mô hình dễ vận dụng. Lí thuyết kinh tế học truyền thống giả định rằng mọi người có khả năng tiếp cận thông tin đầy đủ và có thể xử lí nó một cách hoàn hảo. Nó cũng giả định rằng ta luôn có thể thực hiện kế hoạch của mình và ta chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân. Mô hình hành vi của con người được đơn giản hóa này đã giúp các nhà kinh tế học xây dựng các lí thuyết giúp đưa ra giải pháp cho những vấn đề kinh tế quan trọng và phức tạp. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa lí thuyết và thực tế đôi khi vừa mang tính hệ thống vừa có tầm quan trọng. Richard Thaler đã góp phần mở rộng và cải tiến việc phân tích kinh tế bằng cách xem xét 3 đặc điểm tâm lí có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế một cách hệ thống – đó là tính duy lí hạn chế, nhận thức về sự công bằng (perceptions about fairness), và thiếu khả năng tự kiểm soát (lack of self-control). Tiếp tục đọc

Advertisements

Trừ phi bạn là nhân vật Spock, thì những điều không phù hợp lại có ý nghĩa trong hành vi kinh tế

TRỪ PHI BẠN LÀ NHÂN VẬT SPOCK, THÌ NHỮNG ĐIỀU KHÔNG PHÙ HỢP LẠI CÓ Ý NGHĨA TRONG HÀNH VI KINH TẾ

Richard H. Thaler

Trong buổi đầu sự nghiệp giảng dạy của tôi, tôi xoay sở sao cho hầu hết các sinh viên trong lớp của mình điên tiết vì tôi. Một kỳ thi giữa kỳ đã gây ra vấn đề.

Qua kỳ thi, tôi muốn phân loại những sinh viên giỏi, những sinh viên trung bình và những sinh viên yếu kém, vì vậy bài kiểm tra phải khó và các điểm số phải có một độ phân tán rộng. Tôi đã thành công khi soạn một bài kiểm tra như vậy, nhưng khi các sinh viên biết được điểm bài thi, họ đã phản ứng dữ đội. Khiếu nại chính của họ là điểm số trung bình chỉ là 72 trên tổng số 100.

Điều lạ lùng của phản ứng này là tôi đã giải thích rằng điểm trung bình dưới dạng số của bài kiểm tra hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự phân phối của điểm dưới dạng chữ. Chúng tôi sử dụng một đường cong, theo đó điểm trung bình là điểm chữ B+, và chỉ có một số ít sinh viên được chấm thấp hơn điểm chữ C. Tôi đã nói với lớp về điều đó, nhưng chẳng có tác động gì đến tâm trạng của sinh viên. Họ vẫn ghét bài kiểm tra của tôi, và họ cũng không thích tôi. Là một giáo sư trẻ tuổi, lo lắng cho việc giữ được việc làm của mình, tôi không biết phải làm gì.

Cuối cùng, tôi nảy ra một ý tưởng. Trong kỳ thi tiếp theo, tôi nâng các điểm sẵn có lên một mức hoàn hảo là 137. Bài kiểm tra này còn khó hơn bài kiểm tra đầu tiên. Sinh viên chỉ trả lời đúng có 70% nhưng điểm trung bình dưới dạng số là 96 điểm. Sinh viên rất đổi vui mừng! Tiếp tục đọc

Giải thưởng Sveriges Riksbank năm 2017 về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel

GIẢI THƯỞNG SVERIGES RIKSBANK NĂM 2017 VỀ KHOA HỌC KINH TẾ ĐỂ TƯỞNG NHỚ ALFRED NOBEL


PTKT: Chiều 09.10.2017, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển đã công bố người được giải của Ngân hàng Sveriges Riskbank về các khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2017 là Richard Thaler, sinh năm 1945, giáo sư Đại học Chicago, vì “những đóng góp của ông cho kinh tế học hành vi”. Trong thời gian qua, PTKT đã có mươi bài về chủ đề này (xem ở đây) và để tiếp tục loạt bài về kinh tế học hành vi, chúng tôi chọn làm đề từ hai câu Thaler trả lời phỏng vấn qua điện thoại tại cuộc họp báo chiều nay ở Stockholm.

Tác động quan trọng nhất [của nghiên cứu của tôi] là việc thừa nhận rằng các tác nhân kinh tế là những con người và các mô hình kinh tế phải bao hàm điều này.” (phút phút 15:10-15:35)

Tôi sẽ cố gắng tiêu nó [số tiền giải thưởng 9 triệu SEK] càng phi (duy) lý càng tốt.” (phút 17:19-18:17)

Adam Smith, Giám đốc Khoa học của Nobel Media phỏng vấn Thaler ngay sau cuộc họp báo của Uỷ ban Nobel

PHỎNG VẤN RICHARD H. THALER

Richard H. Thaler

“Nghiên cứu của chúng tôi đã làm thay đổi rất nhiều hệ thống lương hưu trên khắp thế giới”

Cuộc phỏng vấn qua điện thoại với Richard H. Thaler sau khi công bố giải thưởng Sveriges Riksbank năm 2017 về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel. Người phỏng vấn là Adam Smith, Giám đốc Khoa học của Nobel Media. Richard H. Thaler mô tả một số tác động của công trình của ông về kinh tế học hành vi trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại này, được ghi lại ngay sau khi công bố việc trao giải thưởng về Khoa học Kinh tế cho ông. Ông cũng giải thích khái niệm ”cú hích [nudge]”, và mong được trở lại Stockholm một lần nữa với người bạn xưa Daniel Kahneman, người được trao giải thưởng về Khoa học Kinh tế từ năm 2002. Tiếp tục đọc

Vị tha (học thuyết)

VỊ THA (HỌC THUYẾT)

Altruism

® Giải Nobel: BECKER, 1992

Hệ chuẩn về những cá thể ích kỉ có vai trò trội nhất trong sự phát triển của các khoa học kinh tế. Phương pháp điều tra này bắt nguồn từ những công trình của Adam Smith và lí thuyết bàn tay vô hình của ông theo đó những quyền lợi riêng vận động trong những cơ chế trao đổi dẫn đến một kết quả tối ưu cho xã hội. Tuy nhiên tất cả những sự kiện kinh tế không thể qui giản được về logic thị trường. Lòng nhân hay những chuyển nhượng trong nội bộ gia đình, như gia tài hay giáo dục, không tất yếu kéo theo tính có đi có lại đặc trưng của trao đổi.

Phân tích kinh tế đương đại, đặc biệt là tiếp sau những công trình của giải Nobel Gary Becker, đã giữ một khoảng cách với tiên đề truyền thống. Xã hội không được hợp thành từ những cá thể cô lập với nhau và chỉ quan tâm độc nhất đến lợi ích riêng của bản thân, nhưng từ những cá thể nằm trong một mớ quan hệ xã hội và cảm xúc. Vị tha là một giả thiết về sự phụ thuộc lẫn nhau của những sở thích cá thể đặt cá thể kinh tế trong bối cảnh xã hội của nó và cho phép mở rộng phân tích kinh tế ra những chuyển nhượng nằm ở bên ngoài thị trường. Lợi ích của một cá thể vị tha gồm hai yếu tố: lợi ích rút ra được từ những tiêu dùng của bản thân và sự thoả mãn tâm lí cảm nhận được khi bản thân là nhân chứng của sự thoả mãn của những người khác. Như thế cá thể đối mặt trước một đánh đổi giữa một sự thoả mãn trực tiếp gán với tiêu dùng của bản thân và một sự thoả mãn gián tiếp phụ thuộc vào tính vị tha, cá thể phân bổ những nguồn lực của mình cho tiêu dùng bản thân và cho một chuyển nhượng vị tha nhằm thu được sự thoả mãn tối đa. Những tình cảm vị tha không nhất thiết dẫn đến những chuyển nhượng vị tha: một người vị tha không tiến hành những chuyển nhượng nếu chi phí chuyển nhượng tính bằng tiêu dùng là cao hơn thu hoạch mà chuyển nhượng vị tha mang về cho mình. Tiếp tục đọc

Bàn tay vô hình gặp con khỉ đột vô hình: Kinh tế học và Tâm lý học của sức chú ý khan hiếm

BÀN TAY VÔ HÌNH GẶP CON KHỈ ĐỘT[1] VÔ HÌNH: KINH TẾ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC CỦA SỨC CHÚ Ý KHAN HIẾM

Diane Coyle

Phải chăng các nhà kinh tế học đã thiếu chú ý? Bài báo này tường thuật lại một hội nghị về tâm lý học và kinh tế học của “sức chú ý khan hiếm”. Trung tâm của cuộc thảo luận là giả thiết phải chăng việc có quá nhiều thông tin khiến cho việc ra quyết định trở nên mù quáng và liệu điều này có thể giải thích tại sao rất nhiều nhà kinh tế học bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính [2008 – ND], nhiều nhà bình luận đã đặt câu hỏi tại sao rất nhiều nhà kinh tế đã không dự đoán được nó – hoặc thậm chí liệu rằng kinh tế học có vai trò nào trong việc (góp phần) gây ra cuộc khủng hoảng. Một nhóm các chuyên gia Anh trong năm 2009 cho rằng việc không dự đoán được này là một dạng “tâm lý học của sự từ chối” đang đè nặng toàn bộ thế giới tài chính.[2]

Giới kinh tế từ đó tiếp tục đánh giá vai trò của mình trong thảm họa tài chính và khủng hoảng kinh tế sau này. Những giả thiết chuẩn của chủ đề này về cách mọi người đưa ra quyết định và lựa chọn hành xử là trọng tâm đặc biệt được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phải chăng giả định rằng các sự lựa chọn đều dựa trên lý trí, vì mục đích có lợi cho bản thân, dựa trên các thông tin có sẵn, tự chính nó góp phần vào một hiểu lầm khủng khiếp của các cơ quan điều tiết và hoạch định chính sách về những gì có thể xảy ra trong các thị trường tài chính? Tiếp tục đọc

Liệu có đủ những nhà kinh tế học giỏi cho giải Nobel hàng năm không?

LIỆU CÓ ĐỦ NHỮNG NHÀ KINH TẾ HỌC GIỎI CHO GIẢI NOBEL HÀNG NĂM KHÔNG?

Jean-Edоuard Cоlliard

Chú thích kỹ thuật: nếu bằng một phép lạ nào đó, blog này vẫn tồn tại sau dòng chảy bình thường của ngày thứ hai đáng ngại trong tháng mười, thì chúng tôi sẽ mở lại các mục bình luận. Vâng, vâng, đúng vậy.

Biên tập: và giải thưởng năm 2013 đã được trao cho Eugene Fama, Lars Peter Hansen và Robert Shiller, vì những phân tích thực nghiệm của họ về giá cả các tài sản tài chính. Do đó, chúng ta vẫn nằm trong xác suất 22.5% mà tôi gán cho việc mình sai lầm. Tôi thừa nhận rằng, như tất cả mọi người, nếu từ lâu tôi đã đề cập đến Fama/Shiller như là những người có tiềm năng được trao giải, tôi vẫn ngạc nhiên khi họ được giải khá sớm sau cuộc khủng hoảng tài chính. Vì vậy, ủy ban Nobel đã rất can trường hơn những gì tôi nghĩ và đã không ngần ngại giải thích lý do tại sao những đóng góp của Fama lại rất quan trọng để hiểu được điều gì đang xảy ra ngày nay, đó là một điều tốt rồi. Tiếp tục đọc

Nguyên do học lịch sử và triết lý sử học

Giải thích trong sử học

Ngẫu nhiên (Khái niệm) trong sử học

C2

Antoine-Augustin Cournot (1801-1877)

NGUYÊN DO HỌC[1] LỊCH SỬ VÀ TRIẾT LÝ SỬ HỌC

Tác giả: Antoine-Augustin Cournot*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Cournot là nhà toán học của thế kỷ XIX đã đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo liên quan đến lịch sử và triết lý sử học. Nhưng do sự tách biệt truyền thống giữa khoa học và triết học, cũng như tính đa dạng trong sinh hoạt tri thức của ông, đóng góp của Cournot chỉ được các sử gia và nhà xã hội học tham gia vào cuộc tranh luận về nền tảng phương pháp của các khoa học xã hội và khoa học nhân văn hồi cuối thế kỷ này khám phá lại và đề cao, sau một tiếp xúc ban đầu lạnh nhạt.

Ngày nay, ông được nhìn nhận như một trong các triết gia hàng đầu, và một trong hai triết gia khoa học lớn của Pháp (cùng với A. Comte) của thế kỷ XIX, người đã để lại dấu ấn đậm nét trên tư duy sử học của thế kỷ XX, và là nhân vật bản lề đã góp phần đẩy dần mối quan tâm triết học về sử từ quan điểm siêu hình thống trị đương thời (Comte, Hegel, Marx) sang quan điểm phê phán, thông qua việc xem xét lại các phương thức giải thích và vấn đề nhân quả trong sử học – mặc dù triết lý sử học của ông cũng không hoàn toàn vắng bóng một số ý tưởng siêu hình! Ông đã để lại ảnh hưởng đáng kể trên nhiều sử gia Pháp lớn của thế kỷ XX, như Henri Berr, Lucien Febvre, và Fernand Braudel. Tiếp tục đọc