Kể từ hôm nay, nhân loại sống nhờ vào sự vay mượn

KỂ TỪ HÔM NAY, NHÂN LOẠI SỐNG NHỜ VÀO SỰ VAY MƯỢN

Hôm Thứ tư vừa qua, chúng ta đã tiêu thụ hết các tài nguyên thiên nhiên mà hành tinh có thể cung ứng trong một năm. “Ngày Trái đất sử dụng vượt mức tài nguyên” này luôn diễn ra sớm hơn.

(Audrey Garric)

Ngày tiền định, và luôn diễn ra sớm hơn. Kể từ thứ Tư 2 tháng 8, nhân loại sống nhờ vào sự vay mượn: nhân loại đã tiêu thụ hết, chỉ trong vòng bảy tháng, tất cả các tài nguyên mà Trái đất có thể cung ứng trong một năm. Vì vậy, từ nay cho đến cuối năm 2017, để tiếp tục uống, ăn, sưởi ấm hoặc di chuyển, chúng ta sẽ phải khai thác thêm các hệ sinh thái và gây tổn hại đến khả năng tái tạo của chúng. Tiếp tục đọc

Tại sao chủ nghĩa xã hội?

Albert Einstein (1879-1955)

TẠI SAO CHỦ NGHĨA XÃ HỘI?[1] (1949)

Albert Einstein

Có đúng không khi một người-không-phải-chuyên-gia lại phát biểu về các vấn đề kinh tế và xã hội? Tôi tin rằng, từ nhiều nguyên nhân, chúng ta có thể chấp nhận điều đó.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét vấn đề được đặt ra từ quan điểm hiểu biết khoa học. Có hay không một sự khác biệt căn bản giữa thiên văn học và kinh tế học? Các nhà khoa học trong cả hai lĩnh vực đều cố gắng tìm ra các quy luật chung của các chuỗi hiện tượng được định nghĩa rõ, để làm cho mối liên hệ giữa các hiện tượng trở nên hiểu được một cách tốt nhất. Nhưng trong thực tế, những khác biệt về phương pháp luận này là có thật. Các quy luật của kinh tế là phức tạp vì những hiện tượng kinh tế quan sát được thường lệ thuộc vào nhiều yếu tố rất khó để đánh giá riêng lẻ. Cho nên những kinh nghiệm có được, chừng nào còn dựa trên cái-gọi-là loài người văn minh, được biết rằng đã chịu ảnh hưởng và hạn chế sâu rộng từ những nguyên nhân không thuần kinh tế: Ví dụ, hầu hết lãnh thổ của các nước lớn trong lịch sử được hình thành nhờ vào sự xâm chiếm. Các dân tộc đi chinh phục trở thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi về mặt pháp lý và kinh tế. Họ giành cho mình độc quyền sở hữu đất đai và bổ nhiệm giới giáo sĩ từ chính hàng ngũ của họ. Giới này, bằng con đường giáo dục, có nhiệm vụ giữ ổn định sự phân chia giai cấp, và tạo ra một hệ thống giá trị, qua đó con người, một cách không ý thức, được dẫn dắt phần lớn trong hành vi xã hội của họ. Tiếp tục đọc

Kinh tế học trong quá trình chuyển đổi

KINH TẾ HỌC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, không thiếu những phê bình đối với kinh tế học truyền thống, với các mô hình cứng nhắc và các “tác nhân tiêu biểu” hư cấu, vốn đã thất bại hoàn toàn trong việc dự đoán sự sụp đổ. Nhưng các nhà phê bình thường bỏ qua sự trỗi dậy của các cách tiếp cận mới – một số cách tiếp cận đã có trước cuộc khủng hoảng – có thể xác đinh lại dòng chính của tư duy kinh tế.

Hình: Wladimir Bulgar/Getty Images

Diane Coyle thuộc Đại học Manchester đã tiến hành bình phẩm ba cuốn sách gần đây, đánh giá những gì đang thay đổi và chưa thay đổi trong tư duy và nghiên cứu kinh tế kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008. Tiếp tục đọc

Tin học và Sinh học hội tụ

ĐẦU THẾ KỶ 21:

TIN HỌC VÀ SINH HỌC HỘI TỤ

Hàn Thuỷ

Để tưởng nhớ Bùi Mộng Hùng

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon

Tục ngữ

Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói chung chỉ biết có số không và số một, không có gì khô khan hơn. Hiện nay đại đa số những người làm tin học không biết gì đến sinh học, và đa số người làm sinh học cũng chỉ dùng máy tính như một dụng cụ để viết bài hay tính toán.

Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong thời gian vừa qua cũng thấy không hiếm những thông tin hay bài báo nói về những khảo cứu vận dụng cả hai ngành khoa học – công nghệ nói trên. Thí dụ một số tựa như: “Sự thành hình ngành y khoa xi-be”, L’avènement de la cybermédecine, La Recherche, tháng 2.2000; Phải chăng ngày mai sẽ có loài vật nhân tạo?”, Les animaux artificiels sont-ils pour demain?, La Recherche, tháng 10.1998; “Từ Sinh học tới Tin học”, De la Biologie à l’Informatique, La Recherche, tháng 2.1999; “Tính toán bằng ADN”, Calculer avec l’ADN, Pour la Science, tháng 10.1998; vân vân, không thể kể hết. Người ta luôn luôn gặp những thuật ngữ mới (vì mới quá, xin phép không dịch vì đây là công việc mà ngay những người trong nghề cũng phải bàn cãi cẩn thận), như Biopuce, Biocomputer, Pilule électronique, Algorithme  génétique, mạng nơron… cũng không thể kể hết.

Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra? Tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó tới đâu? Tiếp tục đọc

“Các con đường tơ lụa mới” và sự đổi mới: một lộ trình không có dự án?

“CÁC CON ĐƯỜNG TƠ LỤA MỚI” VÀ SỰ ĐỔI MỚI: MỘT LỘ TRÌNH KHÔNG CÓ DỰ ÁN?

Alisée Pornet

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng ly chúc mừng tại bữa tiệc chào đón các khách mời tham dự Diễn đàn về con đường tơ lụa mới, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 14/5/2017. (Ảnh: AFP PHOTO / POOL / DAMIR SAGOLJ)

Hội nghị thượng đỉnh quốc tế đầu tiên về dự án “Con đường tơ lụa mới” đã diễn ra, từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5, tại Bắc Kinh với các nguyên thủ quốc gia từ 29 nước trong đó có Vladimir Putin [tổng thống] của Nga và Joko Widodo [tổng thống] của Indonesia. Sáng kiến “Một vành đai, Một con đường” (OBOR, One Belt One Road) được Tập Cận Bình đề xướng vào năm 2013 từ Kazakhstan, nhắm đến việc đầu tư 1.000 tỷ US$ tại 65 quốc gia. Đây chủ yếu là vấn đề Trung Quốc hỗ trợ các dự án cơ sở hạ tầng – đường cao tốc, đường sắt, cảng biển và cả năng lượng – để cân bằng lại sự phát triển kinh tế trong nước, tăng cường chính sách khu vực của họ và trở thành cường quốc đứng đầu có ảnh hưởng đối với khu vực, trước cả Hoa Kỳ và Nga. Tiếp tục đọc

Phát triển

PHÁT TRIỂN

Paul Bairoch*

1. Một khái niệm mới cho một hiện tượng xưa

Trong một bộ bách khoa về những vấn đề kinh tế, thuật ngữ “phát triển” tự nó kéo theo tính từ “kinh tế”. Vả lại, trong tiếng Anh, “economic development” được dùng nhiều hơn là “development” không thôi. Tuy nhiên điều này không đủ để làm rõ khái niệm phát triển; nhất là nghĩa này của thuật ngữ là mới có gần đây; như thế trong tiếng Pháp nó xuất hiện vào cuối những năm 1950 (xem phiếu số 1 Lịch sử của thuật ngữ phát triển). Thuật ngữ phát triển bắt nguồn từ thuật ngữ chậm phát triển, từ việc ý thức khoảng cách kinh tế ngày càng tăng ngăn cách thế giới phát triển với thế giới thứ ba. Mặt khác -và, qua điều này, nội dung mang nặng cảm xúc càng nổi bật- chỉ mới vừa được dùng, thuật ngữ chậm phát triển, và đặc biệt là những nước chậm phát triển, bị phê phán kịch liệt. Rất nhanh nó được thay thế, đặc biệt trong khuôn khổ của những tổ chức quốc tế năm 1965, bởi thuật ngữ vô cùng sai lầm là các nước đang phát triển. Xin được nhắc là thuật ngữ “thế giới thứ ba” do Alfred Sauvy sáng tạo ngay từ năm 1952 (trong bài viết của ông “Trois mondes, une planète” [Ba thế giới, một hành tinh], Nouvel Observateur [Người quan sát mới], 14 tháng tám) và sự thành công của thuật ngữ này vượt ra ngoài phạm vi những nước dùng tiếng Pháp, dù nó qui chiếu về đẳng cấp thứ ba[1]. Tiếp tục đọc

Niết bàn của các nhà kinh tế học (5): Các đường biểu diễn

Niết bàn của các nhà kinh tế học (5)

CÁC ĐƯỜNG BIỂU DIỄN

Đường Beveridge

Lord William Beveridge (1879-1963) được biết đến nhiều nhất vì là người đặt cơ sở (năm 1942) cho hệ thống bảo hiểm xã hội của Anh, như nó được thiết lập kể từ năm 1945, dưới sự thúc đẩy của chính phủ thuộc Đảng Lao động của Clement Attlee. Vả lại người ta gọi mô hình Beveridge (đối lập với mô hình Bismarck) mọi hệ thống bảo hiểm xã hội theo khuynh hướng phổ quát (tất cả mọi người đều được trợ cấp và kinh phí cho chế độ bảo hiểm xã hội được lấy từ tiền thuế), trong khi đó hệ thống Bismarck dựa trên việc làm và các khoản đóng góp về an sinh xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được giới hạn trợ cấp theo chế độ người hưởng quyền.

Nhưng đường biểu diễn được đặt tên theo Nam tước không liên quan đến chế độ bảo hiểm xã hội. Nó kết nối tỷ lệ việc làm còn trống tại một thời điểm nhất định với tỷ lệ thất nghiệp. Thông thường, khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, thì tỷ lệ việc làm còn trống giảm: người thất nghiệp phải chấp nhận những vị trí công việc này, bởi vì họ không có sự lựa chọn. Ngược lại, khi tỷ lệ thất nghiệp giảm, thì tỷ lệ việc làm còn trống tăng. Nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ việc làm còn trống đều tăng, thì điều đó có nghĩa là có tình trạng thất nghiệp cơ cấu: trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp của người thất nghiệp và các vị trí việc làm còn trống không phù hợp, và điều này dẫn đến một sự tiến hóa của hệ thống đào tạo để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ngành nghề. Tiếp tục đọc