Làm thế nào để trở thành nhà lô-gic học? Nghệ thuật suy luận (B. Russell, 1942)

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH NHÀ LÔ-GIC HỌC? NGHỆ THUẬT SUY LUẬN (1942)

Tác giả: Bertrand Russell*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Bertrand Russell (1872-1970)

Đây là bài thứ hai trong loạt bài của Bertrand Russell đã đăng trong tủ sách “Làm Thế Nào Để = How To Series” của nhà xuất bản Haldeman-Julius.

Để bản dịch dễ đọc hơn, chúng tôi đã thêm vào đây nhiều tiểu tựa và chú thích không có trong nguyên bản. Một số chú thích có thể được tìm lại sau này, dưới dạng được triển khai thêm, ở các phụ lục liên quan trong phần Phụ Lục.

*

Lô-gic học có thể được định nghĩa là nghệ thuật suy luận. Mọi người đều biết rút ra kết luận; theo nghĩa rộng, ngay cả động vật cũng có khả năng này. Nhưng sự suy luận của phần lớn người đời là cẩu thả và vội vàng; kinh nghiệm tiếp theo cho thấy là họ sai. Lô-gic học nhằm tránh những suy luận không đáng tin cậy như vậy; nó tương tự như loại quy tắc về chứng cớ trong luật pháp. Thường thì sự suy luận không có khả năng đem lại sự chắc chắn, nhưng nó có thể cung cấp một mức độ xác suất đủ cao để một người có lý trí dựa trên nó mà hành động. Quy tắc suy luận xác suất là phần khó nhất, song cũng là hữu ích nhất, trong lô-gic học. Tiếp tục đọc

Tổng quan xã hội học Pháp: 1813-1915 (É. Durkheim, 1915)

TỔNG QUAN XÃ HỘI HỌC PHÁP: 1815-1915 (1915)

Tác giả: Émile Durkheim*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Émile Durkheim (1858-1917)

Nguyên bản của bài viết này là một báo cáo bằng tiếng Ý, với tựa đề là “La sociologia e il suo domino scientifico”, đăng trên Rivista italiana di sociologia, số 4, năm 1900, tr. 127–148. Được dịch sang tiếng Pháp cùng năm, với tựa đề “La Sociologie et son domaine scientifique” (Xã Hội Học Và Lĩnh Vực Khoa Học Của Nó), bài báo cáo được tái bản dưới tựa rút gọn là “La Sociologie”, đăng trong La science française (Paris, Larousse, 1915, 2 q., xuất bản nhân dịp nước Pháp tham dự cuộc Triển Lãm Quốc Tế Toàn Cầu Tại San Francisco = Exposition universelle et internationale de San Francisco, năm 1915), và cuối cùng được tái bản trong Émile Durkheim, Textes I – Éléments d’une théorie sociale, Paris, Éd. de Minuit, 1975, tr. 13-36.

Về nội dung, bài viết muốn cho chúng ta thấy một bức tranh toàn cảnh về sự khởi đầu và sự phát triển của xã hội học và các khoa học lân cận, từ đầu thế kỷ XIX (khoảng 1813) đến đầu thế kỷ XX (khoảng 1915). Thật ra, đây là một cái nhìn còn thiếu sót và khá thiên lệch, dù chỉ giới hạn vào tình hình ở Pháp hay mở ra cả Âu châu. Ở Pháp, một số tác giả bị bỏ quên[1]; và phần được báo cáo của các khoa học xã hội trong bài chủ yếu là tiêu biểu cho quan điểm thống trị của xã hội học lúc bấy giờ trên các môn học này: thực chứng (positivist), toàn thể luận (holist = cái toàn thể giải thích và quy định hành vi của các bộ phận) và duy xã hội luận (sociologist = xu hướng xem mọi hiện tượng xã hội như sản phẩm của cấu trúc hay tổ chức xã hội). Với định kiến phát triển các môn học nhân văn và xã hội theo điển mẫu (paradigm) và nhắm đến cùng một mục đích như các khoa học thực nghiệm, Durkheim (1858-1917) cho ta cảm tưởng rằng ông không biết hay không muốn biết tới sự xuất hiện và trưởng thành dần dần của một điển mẫu phát triển khác – nỗ lực đi tìm một lối tiếp cận đặc thù cho các Geisteswissenschaften (“khoa học tinh thần”) đang hình thành ở Đức (nơi ông từng đến học tập một thời gian ngắn, 1885-1887), trong trước tác của các tác giả có tác phẩm được xuất bản hầu như đồng thời với ông là Wilhelm Dilthey (1833-1911) và Maximilian Weber (1864-1920). Tiếp tục đọc

Sự phù phiếm của việc truy tìm nguyên nhân (A. Comte, 1830)

SỰ PHÙ PHIẾM CỦA VIỆC TRUY TÌM NGUYÊN NHÂN (1830)

Tác giả: Auguste Comte*

Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Auguste Comte (1798-1857)

Khoa học nên có tham vọng nào? Phát hiện vì sao các hiện tượng xảy ra, hoặc chỉ đơn giản mô tả cách thức chúng diễn tiến? Khám phá ra cấu trúc mật thiết của sự vật, hoặc chỉ khiêm tốn truy tìm những quy luật cho phép ta theo dõi và tiên đoán các hiện tượng với hiệu quả cao nhất? Từ hai lối tiếp cận đối kháng này, và suốt từ thời cổ đại đến nay, đã phát sinh hai trường phái không thể hóa giải trong triết lý khoa học, nhưng mỗi bên đều được đông đảo các nhà khoa học bênh vực: chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa thực chứng. Nói ngắn gọi: chủ nghĩa hiện thực đặt định đề là có một hiện thực khả tri và tuyệt đối, không phụ thuộc vào những quan sát hay các dụng cụ đo lường của chúng ta; ngược lại, chủ nghĩa thực chứng bỏ công việc tìm kiếm nguyên do sâu xa của sự vật cho các nhà siêu hình học, và chỉ quan tâm phát hiện các quan hệ bất biến giữa những biến cố quan sát được.

Trong trang mục Triết lý Khoa học này, chúng ta sẽ lần lượt đọc những trích đoạn tiêu biểu nhất của mỗi trường phái, bắt đầu bằng đoạn văn sau của Auguste Comte, đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa thực chứng ở Pháp trong thế kỷ XIX-XX.

*

Chúng ta thấy (…) rằng đặc trưng cơ bản của triết học thực chứng là xem tất cả mọi hiện tượng như đều tùy thuộc vào các quy luật tự nhiên bất biến, và mục đích của mọi nỗ lực nơi ta là phát hiện ra chúng một cách chính xác, và giảm thiểu chúng xuống số lượng ít nhất có thể, đồng thời xem như hoàn toàn không thể với tới, và vô nghĩa đối với chúng ta, việc truy tìm cái được gọi là những nguyên nhân, đầu tiên hoặc cuối cùng[1]. Nhấn mạnh nhiều trên một nguyên tắc đã trở nên quá quen thuộc đối với tất cả những ai từng thực hiện một cuộc nghiên cứu dù sơ sài nhất trong các khoa học quan sát, là điều vô ích. Thật ra, mọi người đều biết rằng, trong lối giải thích thực chứng, ngay cả ở những cái hoàn hảo nhất, chúng tôi không hề có tham vọng trưng bày các nguyên nhân đã sinh ra những hiện tượng – bởi vì, ở đây, chúng tôi chẳng bao giờ làm được gì khác ngoài việc đẩy lùi những khó khăn, không hơn không kém – mà chỉ cố phân tích chính xác những tình huống đã sản sinh ra chúng, và kết nối chúng với nhau qua những quan hệ kế tiếp và đồng dạng.

Vì vậy, để viện dẫn thí dụ đáng ngưỡng mộ nhất về lối tiếp cận này, chúng tôi nói rằng những hiện tượng tổng quát trong vũ trụ đều đã được giải thích, đúng như chúng có thể được giải thích, theo định luật hấp dẫn của Newton, bởi vì: một mặt, cái lý thuyết tuyệt đẹp này đã chỉ cho chúng ta thấy rằng mọi sự kiện thiên văn, trong sự khác biệt rộng lớn của chúng, đều chỉ như là một và cùng một thực tế, nhưng được xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau – xu hướng không đổi của mọi phân tử bị thu hút cái này về phía cái kia, theo tỷ lệ thuận với khối lượng, và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của chúng với nhau[2]; mặt khác, thực tế chung này được trình bày với chúng ta chỉ đơn giản như phần mở rộng của một hiện tượng hết sức quen thuộc với ta, và chỉ vì lý do này, được chúng ta coi như đã hoàn toàn lĩnh hội được – trọng lực của các cơ thể trên bề mặt của Trái Đất. Còn việc xác định xem bản chất và nguyên nhân của lực hấp dẫn này và cái trọng lực kia là gì, thì đấy là những câu hỏi mà tất cả chúng ta đều xem là không thể có giải đáp, nên không còn thuộc về lĩnh vực triết học thực chứng nữa, và ta hoàn toàn có lý khi bỏ chúng lại cho trí tưởng tượng của các nhà thần học, hoặc những tinh tế của các nhà siêu hình. Bằng chứng hiển nhiên về sự không thể đạt được các giải đáp cho chúng chính là, cứ mỗi khi cố gắng nói ra điều gì đó thực sự thuần lý về chủ đề này, ngay cả các bộ óc vĩ đại nhất cũng chỉ có thể định nghĩa hai nguyên lý trên cái này bằng cái kia, nói về lực hấp dẫn rằng nó chẳng qua chỉ là một trọng lực phổ quát, và về trọng lực rằng nó chỉ đơn giản là lực hấp dẫn giữa các cơ thể trên Trái Đất. Những giải thích như vậy khiến chúng ta mỉm cười trước tham vọng biết được, bản chất thâm sâu của vạn vật và cách thức phát sinh của mọi hiện tượng, nơi người phát biểu. Tuy nhiên, đấy lại là tất cả những gì chúng ta có thể đạt tới một cách thỏa đáng nhất, khi ta chứng minh cho chính ta thấy rằng hai trình tự hiện tượng, từ lâu vẫn bị cho là không liên quan gì tới nhau, là đồng nhất. Ngày nay, không một trí tuệ đích đáng nào tìm cách đi xa hơn thế.

Auguste Comte,
Giáo Trình Triết Học Thực Chứng
(Cours de Philosophie positive
, I, 1830),
Bài học đầu.

Nguồn: Sự phù phiếm của việc truy tìm nguyên nhân (A. Comte, 1830), Ired.Edu.Vn.

—-

Chú thích:

[1] “Nguyên nhân đầu tiên” là cái sự kiện không phụ thuộc vào bất cứ một sự kiện nào khác trước đó; nguyên nhân cuối cùng” là cái mục đích mà một hiện tượng nhắm tới để tự thực hiện. Xem thêm trên cùng trang mục này các bài về các chủ đề “nguyên nhân”, “nhân quả”, “ngẫu nhiên”…

[2] Trong sách giáo khoa: “lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với tích của hai khối lượng, và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách hai vật”.

Xã hội học: đối tượng và phương pháp (É. Durkheim, 1895)

XÃ HỘI HỌC: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP (1895)

Tác giả: Émile Durkheim*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Émile Durkheim (1858-1917)

Một khoa học hình thành và khác biệt với một khoa học khác ở chỗ nó có một đối tượng và/hay một phương pháp đặc thù. Như vậy, để trả lời cho câu hỏi “xã hội học phải chăng là một khoa học?”, ta có hai vấn đề phải giải quyết. Và trên hai vấn đề này, Émile Durkheim cho thấy ông vừa tiếp nối Auguste Comte, vừa đối lập với Comte. Bởi trong mắt Durkheim, nhà xã hội học phải loại bỏ mọi “tiên đề”, tức là mọi giả định mà ta bị cám dỗ sử dụng thay cho các sự kiện hiện thực, để chỉ tập trung nghiên cứu loại sự kiện thực sự quan sát được mà thôi.

Vấn đề đầu tiên là phải phân định rõ đối tượng của xã hội học – cụ thể là phân biệt sự kiện xã hội với sự kiện tâm lý và sự kiện sinh học[1]. Ở đây, Comte cho rằng không có gì trong các quy luật tiến hóa của xã hội mà lại không thể hiểu và giải thích được từ bản chất của con người, như những gì đã nảy sinh và hình thành từ sự phát triển đầy đủ của bản chất tâm lý, sinh lý đó. Hệ quả là những hiện tượng xã hội chỉ có thể bước vào khoa học sau khi đã bị quy giản vào những điều kiện cơ bản, tâm lý hay hữu cơ, của chúng. Theo Durkheim, đây là một tiên đề: sự kiện xã hội không thể nào bị nhầm lẫn với các hiện tượng hữu cơ, vì chúng bao gồm những biểu tượng và hành động; cũng không thể nào bị nhầm lẫn với các hiện tượng tâm lý, vốn chỉ tồn tại trong ý thức cá nhân và thông qua nó. Ông cho rằng có một sự kiện xã hội đặc thù; nó được hiển thị không chỉ bằng hành vi mà còn thông qua biểu tượng, và những biểu tượng này cùng các hành vi đi kèm với chúng được áp đặt từ bên ngoài cho mỗi cá nhân. Khi tôi quyết định lập gia đình hoặc tôn trọng luật pháp chẳng hạn, đấy là tôi đã tự động tuân theo các nề nếp mà xã hội áp đặt, chứ không phải là một quyết định cá nhân. Xã hội không chỉ đơn giản là một tập hợp những cá nhân. Nó có các quy tắc riêng mà nó áp đặt bằng nhiều biện pháp cưỡng chế đối với mọi thành viên của mình.

Vấn đề thứ hai là xác định một phương pháp. Chính Comte đã chỉ ra rằng tính khoa học chẳng là gì khác hơn là tính thực chứng của nó – nghĩa là sự kiện nó được đặt trên sự quan sát những sự kiện. Thế nhưng học thuyết của Comte về sự phát triển tuyến tính của loài người qua ba giai đoạn lại chỉ là một giả thuyết. Quan sát hiện thực chỉ cho ta thấy, ngược lại, là loài người bị phân chia thành một số xã hội không phát triển theo cùng một cách, và không thể bị quy giản vào một mô hình thống nhất, hướng về cùng một cứu cánh. Để loại trừ mọi thứ “tiên đề” có thể còn ẩn nấp đâu đó trong xã hội học thực chứng, ta cần phải đặt ra ngoài phạm vi của khoa học này mọi quan hệ với triết lý lịch sử. Theo Durkheim, nhà xã hội học không cần phải đi tìm nguyên nhân của một thực trạng xã hội trong quá khứ trước đó, hoặc trong tương lai sau này. Ông ta phải truy tìm nó trong “môi trường xã hội nội bộ”, nghĩa là trong một lý do cùng tồn tại với sự kiện và thực tế xã hội, một nguyên nhân xã hội học đặc thù, không vướng mắc vào một hệ tư tưởng lịch sử nào cả. Tiếp tục đọc

“Duy xã hội luận” (É. Durkheim, 1895)

QUAN ĐIỂM DUY XÃ HỘI LUẬN

Tác giả: Émile Durkheim*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Duy xã hội luận cho rằng nhà xã hội học phải truy tìm giải thích cho một sự kiện hay hiện tượng xã hội trong “môi trường xã hội nội bộ”, nghĩa là trong một lý do cùng tồn tại với sự kiện và thực tế xã hội, một nguyên nhân xã hội học đặc thù, không vướng mắc vào một tiên đề sinh lý, tâm lý hoặc lịch sử nào cả.

Trong hai trích đoạn từ Những Hình Thức Sơ Đẳng Của Đời Sống Tôn Giáo dưới đây, Durkheim đã minh họa luận thuyết trên qua hai thí dụ, đặt ở mức độ rất cao, bởi vì liên quan tới một phạm trù của giác năng và quyền uy của lý trí. Đối với Durkheim, các học thuyết cổ điển đều là bất cập. Chủ nghĩa kinh nghiệm bất lực trước đòi hỏi lý giải tính phổ quát và tính thiết yếu của các nguyên lý. Chủ nghĩa duy lý tiên nghiệm không có khả năng giải thích tính cưỡng bách vượt quá kinh nghiệm của lý trí. Theo Durkheim, chỉ một lý thuyết nhận thức được nguồn gốc xã hội nơi các nguyên lý và phạm trù của tri thức mới có thể giúp ta giải quyết được các vấn đề trên.

* Tiếp tục đọc