Cournot Antoine Augustin, 1801-1877

Antoine-Augustin Cournot (1801-1877)

COURNOT ANTOINE AUGUSTIN, 1801-1877

Ông mong muốn trở thành triết gia, người ta tưởng rằng ông là nhà toán học lớn, nhưng ông đã để lại ảnh hưởng sâu sắc trong kinh tế học. Sinh tại Gray năm 1801, là sinh viên trong ngôi trường Đại học sư phạm (phố Ulm – ND) bị xáo động bởi những tư tưởng tự do, tác giả của một luận án về vật lí được chú ý. Cournot quan tâm sát đến lí thuyết xác suất vừa mới ra đời, khơi dậy ở Poisson, người đã giúp ông được bổ nhiệm làm giáo sư ở Lyon, hi vọng có được một môn đồ. Sự ngẫu nhiên của một bản dịch khiến ông suy nghĩ đến “lao động của máy móc” và, bằng suy luận tương tự, đến năng suất của lao động con người, một điều kéo ông đến gần với rất nhiều bạn đồng môn vốn thường dễ dàng tự xem mình như những kĩ sư về cái xã hội.

Vả lại tác phẩm Recherches sur les principes mathématiques de la théorie des richesses của ông mở đầu bằng cách quy chiếu rõ ràng về cách nhìn cải cách này. Khai mở việc sử dụng chặt chẽ toán học trong kinh tế học, tác phẩm đánh dấu một cuộc cách mạng trong bộ môn này. Cournot phát triển một lí thuyết giá cả tuỳ theo các cấu trúc thị trường, mà ông xác lập một phân loại. Các kết quả thu được tiếp tục được giảng dạy trong kinh tế học vi mô. Các “đường phản ứng” nổi tiếng của ông, mô tả hành vi của hai người cạnh tranh, sẽ giữ một vai trò có tính quyết định trong lí thuyết trò chơi … một thế kỉ sau. Tiếp tục đọc

Advertisements

Richard Cantillon, nhà lý thuyết tiền tệ hàng đầu của thế kỷ XVII

RICHARD CANTILLON, NHÀ LÝ THUYẾT TIỀN TỆ HÀNG ĐẦU CỦA THẾ KỶ XVII

Gilles Dostaler

Là người theo chủ nghĩa thế giới, nhà ngân hàng và nhà đầu cơ, Richard Cantillon tự vấn về sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm và giá cả của chúng. Phân tích tiền tệ của ông đã làm cho ông trở thành một nhà tư tưởng hàng đầu trong thời đại ông.

Minh họa về cuộc khủng hoảng tài chính năm 1720 tại Paris. Richard Cantillon đã tiên đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán gây ra bởi John Law.

Kinh tế học cũng có những đứa con bị nguyền rủa. Rosa Luxemburg bị ám sát, Friedrich List thì tự tử. Ban đầu người ta tin rằng những ngọn nến còn cháy dỡ đã thiêu rụi căn nhà ở London của nhà tài chính giàu có người Pháp gốc Ireland Richard Cantillon, cho tới khi phát hiện cơ thể ông bị đâm. Các gia nhân bị nghi ngụy trang một vụ giết người dã man bằng một vụ hỏa hoạn, nhưng cuối cùng được tha bổng. Josef Denier, người đầu bếp của Cantillon suốt mười một năm nay, đã bị sa thải một tuần trước khi xảy ra vụ giết người. Ông thận trọng đi lưu vong ở Hà Lan. Người ta không biết chính xác tuổi của Cantillon vào thời điểm diễn ra các sự kiện đáng buồn nói trên. Tuổi của ông dao động từ 37 đến 54 tuổi. Tiếp tục đọc

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Maurice Allais (1911-2010)
Maurice Allais (1911-2010)

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Là nhà kinh tế học và vật lý học, Maurice Allais, được gán nhãn là người hoạt động vì một toàn cầu hóa khác, bảo thủ, tự do hay can thiệp. Tuy nhiên, gọi ông là nhà kinh tế học tự do phi chính thống là thích hợp nhất.

Maurice Allais được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1988.

Tư tưởng kinh tế trong những năm 1930 và 1940 được đánh dấu bởi ba biến đổi lớn. Tất nhiên là phải kể đến cuộc cách mạng keynesian, mà Keynes không phải là tác giả duy nhất. Niềm tin vào sự điều tiết tự động của các thị trường, đảm bảo toàn dụng lao động nếu không có trở ngại nào cản trở sự điều tiết này, biến mất dần và Nhà nước phúc lợi và chủ nghĩa can thiệp được thiết lập. Cuộc cách mạng thứ hai, một phần về mặt phương pháp luận được dẫn dắt, trong số nhiều nhà kinh tế học khác, bởi John Hicks (Value and CapitalGiá trị và tư bản, 1939) và Paul Samuelson (Foundations of Economic AnalysisCác nền tảng của phân tích kinh tế, 1947). Các tác giả trên hình thức hóa sự điều tiết tự động của các thị trường mà Keynes đã đặt lại vấn đề trong khi vẫn sử dụng lại một số ý tưởng của ông ấy. Chính vì vậy mà tổng hợp tân cổ điển ra đời, thống trị tư tưởng kinh tế trong suốt ba mươi năm đầu của thời kỳ hậu chiến. Cuộc cách mạng thứ ba, kinh tế học, trong đó ngôn ngữ Pháp đã chiếm được một vị trí quan trọng, trở thành một khoa học chủ yếu của người Anglo-Saxon và người Hoa Kỳ. Tiếp tục đọc

Don Patinkin, người hoà giải kinh tế tiền tệ và kinh tế thực tế

Don Patinkin (1922-1995)
Don Patinkin (1922-1995)

DON PATINKIN, NGƯỜI HOÀ GIẢI KINH TẾ TIỀN TỆ VÀ KINH TẾ THỰC TẾ

Gilles Dostaler

Là một nhà lý thuyết tỉ mỉ và là một nhà sử học về tư tưởng kinh tế, Don Patinkin là một trong những kiến trúc sư của tổng hợp tân cổ điển. Ông đã tìm cách xây dựng những nền tảng kinh tế học vi mô chặt chẽ cho kinh tế học vĩ mô của Keynes, bằng cách tích hợp lý thuyết tiền tệ và lý thuyết thực tế.

Don Patinkin cho rằng ông đã hòa giải, về mặt lý thuyết, các quan điểm của Keynes và các luận điểm cổ điển, nhưng hố sâu chính trị giữa hai tầm nhìn vẫn luôn xa cách đáng kể.

Sự nghiệp của Don Patinkin minh họa sự khó khăn trong việc phân loại những nhà tư tưởng có ảnh hưởng trong một ngách được xác định ranh giới rõ ràng. Trong kinh tế học, cũng như trong các lãnh vực kiến thức khác, Patinkin được coi là một trong những kiến trúc sư chính, cùng với John HicksPaul Samuelson, của tổng hợp tân cổ điển, một sự hỗn hợp giữa kinh tế học vi mô của Walras và kinh tế học vĩ mô của Keynes đã được “tiệt trùng”. Tuy nhiên ông vẫn bác bỏ một số ý tưởng chính của trào lưu tư tưởng nói trên, chẳng hạn như ý tưởng cho rằng tình trạng thất nghiệp không tự nguyện là do tính cứng nhắc trong chiều giảm của lương. Tiếp tục đọc

Gerard Debreu hay kinh tế học giống như toán học ứng dụng

Gérard Debreu (1921-2004)
Gérard Debreu (1921-2004)

Gerard Debreu hay kinh tế học giống như toán học ứng dụng

Gilles Dostaler

Là kiến trúc sư của thuyết chính thống tân cổ điển mới, Gerard Debreu đã xây dựng cho lý thuyết cân bằng kinh tế chung một phiên bản mang tính dứt điểm. Ông cũng là một trong những người gây dựng chính việc toán học hoá kinh tế học.

Gerard Debreu là người Pháp đầu tiên được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel.

Về mặt định lượng, số tác phẩm của Gerard Debreu ít hơn số tác phẩm của hầu hết các nhà kinh tế học, mà chúng ta đã đề cập đến thời điểm này: một cuốn sách ngắn, độ một trăm trang, và vài chục bài viết. Hơn nữa, tác phẩm của ông không phải dễ đọc đối với các độc giả bình thường, không quen thuộc với các kỹ thuật toán học tiên tiến nhất được sử dụng trong kinh tế học. Tuy nhiên, Debreu là một trong những nhà kinh tế học được viện dẫn nhiều nhất và có ảnh hưởng lớn nhất thời hậu chiến. Tiếp tục đọc

James Tobin, nhà keynesian ôn hòa và nhà phê bình triệt để chủ nghĩa tân tự do

James Tobin (1918-2002)
James Tobin (1918-2002)

James Tobin, nhà keynesian ôn hòa và nhà phê bình triệt để chủ nghĩa tân tự do

Gilles Dostaler

Là một tác giả có rất nhiều bài viết và là một người dấn thân, James Tobin đã tham gia vào việc xây dựng tổng hợp tân cổ điển và đặt nền tảng cho lý thuyết tài chính hiện đại.

James Tobin chủ trương đánh thuế tất cả các giao dịch tài chính quốc tế để chống lại ảnh hưởng vượt trội của sự đầu cơ trên doanh nghiệp.

James Tobin đã trải qua thời niên thiếu trong thời kỳ suy thoái kinh tế của những năm 1930. Là một nhân viên công tác xã hội, mẹ ông đã trở lại làm việc và đã làm cho ông nhạy cảm với những hệ quả của tình trạng thất nghiệp và nghèo đói. Là một nhà báo có văn hóa, bố ông là người theo thuyết “tự do”, theo nghĩa của người Mỹ, ủng hộ mạnh mẽ Roosevelt. Tobin cho biết đã được dẫn dắt đến với kinh tế học theo hai con đường: một đam mê trí tuệ đối với bộ môn này đang trong quá trình hình thức hóa và toán học hoá, và một niềm tin rằng kinh tế học có khả năng mang lại những giải pháp cho những vấn đề nghiêm trọng về xã hội, chính trị và kinh tế vào thời của ông. Là tác giả viết cực kì nhiều, Tobin phô diễn tài năng trong các bái báo về chính trị, mà đối tượng là công chúng rộng lớn, cũng như trong các ấn phẩm lý thuyết nhắm đến các đồng nghiệp của ông. Tiếp tục đọc

Franco Modigliani hay chủ nghĩa Keynes xuống cấp

Franco Modigliani (1918-2003)
Franco Modigliani (1918-2003)

Franco Modigliani hay chủ nghĩa Keynes xuống cấp

Gilles Dostaler

Franco Modigliani, người khởi xướng tổng hợp tân cổ điển, cố dung hòa phân tích keynesian và kinh tế học vi mô của Walras. Với cái giá là một sự cắt xén những đóng góp sáng tạo nhất của tác giả cuốn “General Theory (Lý thuyết tổng quát)”.

Franco Modigliani tự cho mình là một “nhà hiền triết” theo thuyết của Keynes.

Ban đầu, Franco Modigliani quan tâm đến y học, nghề của bố ông, bố ông qua đời khi ông mới 13 tuổi. Không chịu được cảnh phải thấy máu chảy, ông chuyển sang ngành luật học, lãnh vực mà ông đã lấy bằng tiến sĩ. Bị đe dọa sau khi chính phủ của Mussolini thông qua các đạo luật mang tính phân biệt chủng tộc, xét nguồn gốc Do Thái và các hoạt động chống phát xít của ông, ông cùng với vợ rời nước Ý vào năm 1939 để định cư tại Pháp, rồi tại Hoa Kỳ, nơi ông tiến hành các nghiên cứu về kinh tế, trong khi phải đi bán sách để kiếm sống. Ông phát hiện ra Keynes một cách phấn khởi. Ông tuyên bố, trong cuộc phỏng vấn với Arjo Klamer, rằng kinh nghiệm của cuộc suy thoái và thất nghiệp đại trà mà nó gây ra là một trong những nhân tố làm ông quan tâm đến kinh tế học: “Và rồi Keynes xuất hiện, nói rằng điều ấy không nên xảy ra[1]. Nhưng rồi Modigliani sẽ làm cho tác phẩm của Keynes phải chịu đựng một cách xử lí đặc biệt.

Xây dựng tổng hợp tân cổ điển

Benito Mussolini (1883-1945)
Benito Mussolini (1883-1945)
John Hicks (1904-1989)
John Hicks (1904-1989)

Từ luận án tiến sĩ của mình, Modigliani rút ra bài báo đầu tiên của ông, “Liquidity Preference and the Theory of Interest and Money (Ưa thích thanh khoản và lý thuyết về lãi suất và tiền tệ)”. Bài viết ấy, của một tác giả 26 tuổi, là một trong những bài viết được viện dẫn nhiều nhất và có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XX. Cùng với một bài viết khác không kém phần nổi tiếng “Mr. Keynes and the ‘Classics’ (Ông Keynes và các nhà cổ điển)”, được John Hicks công bố vào năm 1937, ông đặt những nền móng cho điều, mà một vài năm sau đó, người đồng nghiệp và bạn của Modigliani, Paul Samuelson, gọi là “tổng hợp tân cổ điển“. Trong khi Keynes xem lý thuyết của ông như là một sự đoạn tuyệt với điều mà ông gọi là “lý thuyết cổ điển“, thì các nhà kiến trúc của tổng hợp tân cổ điển, sẽ chiếm ưu thế như là tư tưởng chính thống mới trong thời hậu chiến, nhấn mạnh đến sự liên tục giữa các luận điểm của Keynes và các luận điểm của những tác giả trước ông, đặc biệt là giữa kinh tế học vĩ mô keynesian và kinh tế học vi mô tân cổ điển được xây dựng từ công trình của Walras. Điều này kéo theo rằng phải cắt bỏ khỏi lý thuyết của Keynes một số yếu tố sáng tạo nhất, chẳng hạn như vai trò của thời gian, những dự kiến và sự bất trắc. Sự hình thức hóa và toán học hóa mô hình Keynes đi ngược lại ý muốn của người tạo ra nó.

John M. Keynes (1883-1946)
John M. Keynes (1883-1946)
Léon Walras (1834-1910)
Léon Walras (1834-1910)

Modigliani phác thảo rõ dự án ấy. Đó là việc “tích hợp các yếu tố cấu thành chính của Lý thuyết tổng quát với phương pháp luận truyền thống và vững chắc nhất của khoa học kinh tế dựa trên định đề cơ bản về hành vi tối đa hóa duy lý của các tác nhân kinh tế.” (Collected PapersTuyển tập, Vol. 1, trang XI). Đóng góp chính của bái báo của Modigliani là minh chứng rằng sự cứng nhắc của tiền lương là giả thuyết trung tâm để giải thích tình trạng thất nghiệp không tự nguyện trong mô hình Keynes. Với tiền lương hoàn toàn linh hoạt, điều không nhất thiết là mong muốn của Modigliani, người ta sẽ đạt được sự toàn dụng lao động. Ý tưởng này sẽ chiếm ưu thế trong cách diễn giải chính thống về Keynes. Như vậy “kinh tế học keynesian mới“, rất thịnh hành ngày nay, phải tìm cách giải thích sự tồn tại của những “cứng nhắc danh nghĩa“, những thứ tạo ra “những kết quả keynesian“. Chúng ta ở khá xa với tầm nhìn của Keynes, người đúng ra đã muốn đặt lại vấn đề về định đề sự duy lý của một tác nhân kinh tế tối đa hóa. Vả lại Modigliani cũng cho rằng có một trường hợp mà ông gọi là “trường hợp keynesian“, trong đó giả thuyết về sự cứng nhắc của tiền lương là điều không cần thiết. Đó chính là khi lãi suất đạt đến một mức tối thiểu, thì cầu tiền tệ sẽ trở nên vô cùng co dãn. Trong biệt ngữ keynesian, người ta gọi điều này là chiếc “bẫy thanh khoản“.

Tiếp sau sự can thiệp đầu tiên trên, Modigliani đã mang lại nhiều đóng góp cho ngành công nghiệp đang tăng trưởng của kinh tế học vĩ mô keynesian, khi xây dựng những mô hình kinh trắc của nền kinh tế của Hoa Kỳ.

General Theory Ly thuyet tong quatMột trong những khái niệm then chốt của cuốn General Theory (Lý thuyết tổng quát) của Keynes là xu hướng tiêu dùng. Keynes dựa trên ý tưởng cho rằng, khi thu nhập của một cá nhân tăng lên, thì các chi tiêu về tiêu dùng của người ấy cũng tăng lên, nhưng ở một mức thấp hơn. Nói cách khác, tỷ lệ tiết kiệm tăng khi thu nhập tăng. Tuy nhiên, những nghiên cứu thống kê, được Simon Kuznets tiến hành trong số những nghiên cứu khác, dường như bác bỏ giả thuyết trên. Trong những nghiên cứu được tiến hành cùng với sinh viên của ông, Richard Brumberg (qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 25), Modigliani đã tìm cách lý giải nhận định trên.

Vòng đời và đời sống các doanh nghiệp

Simon Kuznets (1901-1985)
Simon Kuznets (1901-1985)

Giải pháp có dạng của giả thuyết về vòng đời, được Modigliani và Brumberg trình bày vào năm 1954, và kể từ đó đã dẫn đến nhiều sự phát triển và vô số những kiểm định thống kê. Vấn đề, một lần nữa, là xuất phát từ giả thuyết về tính duy lý của tác nhân kinh tế. Tác nhân này tối đa hóa lợi ích của mình bằng cách phân bổ nguồn lực một cách tối ưu trong suốt cuộc đời, và bằng cách “san bằng” – để sử dụng một thuật ngữ khác của biệt ngữ kinh tế – tiêu dùng của mình. Như vậy, trong giai đoạn đầu của cuộc sống năng động, một cá nhân sẽ tiêu xài nhiều hơn những gì họ kiếm được, bằng cách đi vay mượn, biết rằng thu nhập của họ trong tương lai sẽ tăng lên. Khi đó tỷ lệ tiết kiệm của họ là âm. Tỷ lệ tiết kiệm này sẽ chuyển qua dương, và sẽ tăng lên cho đến khi cá nhân đạt được thu nhập tối đa, trong những năm trước khi nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, họ sẽ thanh toán các khoản tiết kiệm ấy. Vì vậy, tỷ lệ tiết kiệm, trong vòng đời của một người, có hình của một chiếc chuông. Và vì vậy khoản tiết kiệm ấy, cũng như mức tiêu dùng, không được xác định bởi thu nhập hiện hành.

Merton Miller (1923-2000)
Merton Miller (1923-2000)

Trừ đóng góp đầu tiên của ông, Modigliani, hầu như luôn luôn cùng với một nhà nghiên cứu khác, tiến hành các công trình của ông, thường được công bố dưới hình thức các bài báo. Tại một trong những bái báo nói trên, được công bố năm 1958 và được đề cập, cũng như bài báo năm 1954, trong diễn từ nhận giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển, Modigliani và Merton Miller đã trình bày một số luận điểm đi ngược lại những ý tưởng được tiếp nhận của thời đó, đặt nền tảng cho điều được gọi là kinh tế học tài chính, kết hợp lý thuyết kinh tế thuần túy với nghiên cứu về hành vi tài chính của các doanh nghiệp. Trái ngược với những gì mà lý thuyết kinh tế truyền thống giảng dạy, một doanh nghiệp không tối đa hóa tỷ lệ lợi nhuận, mà là giá trị thị trường của họ. Giá trị này độc lập với cách thức mà doanh nghiệp tài trợ cho nguồn vốn của họ, đặc biệt tỷ lệ giữa tài sản nợ và phát hành cổ phiếu. Nó bắt nguồn từ các nguồn thu nhập được tạo ra bởi các tài sản có. Một doanh nghiệp có tài sản nợ cao có thể có một giá trị thị trường cao hơn một doanh nghiệp hoạt động thận trọng hơn. Tương tự, việc một doanh nghiệp sử dụng các khoản lợi nhuận của họ, tỷ lệ mà doanh nghiệp phải trả dưới dạng cổ tức, không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của họ.

Milton Friedman (1912-2006)
Milton Friedman (1912-2006)
Robert Solow (1924-)
Robert Solow (1924-)

Tự cho mình, cùng với những người bạn của ông như Solow, Samuelson, Tobin hay Heller, là một “nhà hiền triết” theo thuyết Keynes (wise Keynesian), Modigliani thường đối lập với những người theo thuyết trọng tiền và, sau này, với những nhà kinh tế học cổ điển mới, mà ông cáo buộc tính giáo điều và hung hăng của họ. Vả lại ông cũng mô tả sự nổi lên của kinh tế học vĩ mô cổ điển mới như là một chính biến cung đình trong lòng của chủ nghĩa trọng tiền. Ông cho rằng hố sâu giữa chủ nghĩa Keynes và chủ nghĩa trọng tiền mang tính chính trị và ý thức hệ hơn là lý thuyết. Ông thừa nhận một số phê phán của Friedman và một số tác giả khác đối với lý thuyết keynesian, lưu ý rằng họ cũng sử dụng mô hình IS-LM[2].

Những khác biệt chính trị

Arjo Klamer (1953-)
Arjo Klamer (1953-)
Silvio Berlusconi (1936-)
Silvio Berlusconi (1936-)

Sự khác biệt cơ bản giữa hai nhóm liên quan đến thái độ của họ đối với chính sách bình ổn. Trong diễn từ nhậm chức chủ tịch Hiệp hội Kinh tế của Mỹ (1977), Modigliani tuyên bố rằng, đối với những nhà phi trọng tiền, thì một nền kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân có thể được bình ổn và phải được bình ổn bằng những chính sách tiền tệ và tài khóa. Trái lại, những người theo thuyết trọng tiền thì cho rằng không cần thiết phải bình ổn một nền kinh tế; rằng ngay cả khi cần thiết, thì cũng không nên làm điều đó, bởi vì các chính sách bình ổn có khả năng làm tăng thêm sự bất ổn; cuối cùng, ngay cả khi những chính sách này có hiệu quả, thì cũng không nên giao phó trách nhiệm này cho các chính phủ: “Friedman tin rằng mọi thứ mà chính phủ làm đều xấu cả. Ông có một sứ mệnh phải hoàn thành và ông có vẻ sẵn sàng hy sinh một phần sự trung thực trí tuệ của ông để đạt được điều đó” (phỏng vấn của Arjo Klamer, trang 164).

Modigliani thường can thiệp vào những công việc của quê hương ông, công bố ở đó nhiều bài báo. Năm 2003, ông đã ký tên cùng với Samuelson và Solow gửi một bức thư ngỏ đến tờ New York Times (Thời báo New York) phản đối quyết định đáng ngạc nhiên của một tổ chức đấu tranh chống chủ nghĩa bài Do Thái, Anti-Defamation League (Liên đoàn chống phỉ báng), trao một giải thưởng cho Silvio Berlusconi, Chủ tịch Hội đồng của Italia.

Franco Modigliani qua vài năm tháng

1918: Sinh tại Rome, ngày 18 tháng 6.

1939: tiến sĩ Luật tại Đại học Rome. Định cư tại Pháp, sau đó tại Hoa Kỳ.

1944: Liquidity Preference and the Theory of Interest and Money (Ưa thích thanh khoản và lý thuyết về lãi suất và tiền tệ).

1944: Tiến sĩ Kinh tế tại trường New School for Social Research, nơi ông giảng dạy từ năm 1943 đến 1948.

1949-1952: Giáo sư tại Đại học Illinois.

1949-1954: tư vấn cho Ủy ban Cowles, trung tâm nghiên cứu chính về kinh trắc học.

1952-1960: Giáo sư tại Viện Công nghệ Carnegie.

The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment1953: đồng tác giả với Hans Neisser, National Income and International Trade (Thu nhập quốc dân và thương mại quốc tế).

1954: đồng tác giả với R. Brumberg, Utility Analysis and the Comsumption Function: an Interpretation of Cross-Section Data (Phân tích lợi ích và hàm tiêu dùng: một diễn giải các dữ liệu theo lớp cắt cùng thời).

1956: Problems of Capital Formation: Concepts, Measurements and Controlling Factors (Những vấn đề của việc hình thành vốn: Các khái niệm, đo lường và nhân tố kiểm soát).

1958: đồng tác giả với Merton H. Miller, The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment (Chi phí vốn, tài chính doanh nghiệp và lý thuyết đầu tư).

1960: đồng tác giả với Charles C. Holt, John F. Muth và Herbert A. Simon, Planning Production, Inventories et Work Forces (Hoạch định sản xuất, tồn kho và lực lượng lao động).

1960-1962: Giáo sư tại Đại học Northwestern.

1962-1988: Giáo sư tại Viện Công nghệ Massachusetts.

1962: Chủ tịch Hiệp hội kinh trắc học.

Albert Ando (1929-2002)
Albert Ando (1929-2002)

1963: The Monetary Mechanism and Its Interaction with Real Phenomena (Cơ chế tiền tệ và sự tương tác với các hiện tượng thực). Đồng tác giả với Albert K. Ando, The Life Cycle Hypothesis of Saving: Aggregate Implications and Tests (Giả thuyết về vòng đời tiết kiệm: Những hàm ý tổng gộp và kiểm định).

1964-1972: tư vấn cho Bộ trưởng Tài chính.

1965: đồng tác giả với Albert K. Ando, The Relative Stability of Monetary Velocity and the Investment Multiplier (Tính ổn định tương đối của vận tốc tiền tệ và số nhân đầu tư).

1975: The Life Cycle Hypothesis of Saving Twenty Years Later (Giả thuyết về vòng đời tiết kiệm hai mươi năm sau).

1976: Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế của Mỹ.

1977: The Monetarist Controversy or, Should we Forsake Stabilization Policies? (Bút chiến với phái trọng tiền hay, có nên từ bỏ các chính sách bình ổn?)

1981: Chủ tịch Hiệp hội Tài chính của Mỹ.

1983: Chủ tịch danh dự của Hiệp hội kinh tế quốc tế.

1985: Life Cycle, Individual Thrift, and the Wealth of Nations (Vòng đời, tiết kiệm cá nhân, và sự giàu có của các quốc gia).

The Debate Over Stabilization Policy1985: được trao giải thưởng về khoa học kinh tế của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel.

1986: The Debate Over Stabilization Policy (Cuộc tranh luận về chính sách bình ổn).

1994: đồng tác giả với Frank J. Fabozzi và Michael G. Ferri, Foundations of Capital Markets and Institutions (Nền tảng của thị trường vốn và các thể chế).

2003: qua đời ngày 25 tháng 9 tại Cambridge, Massachusetts.

Để tìm hiểu thêm

Những tác phẩm của Modigliani

  • The Collected Papers of Franco Modigliani, MIT Press, 5 vol., 1980-1989.
  • Planification de la production, des stocks et de l’emploi, avec Charles C. Holt, John F. Muth et Herbert A. Simon, Dunod, 1964.
  • “Entretien”, dans Entretien avec des économistes américains, par Arjo Klamer, Le Seuil, 1988, pp. 157-172.

Những tác phẩm viết về Modigliani

  • Monnaie, taux de l’intérêt et revenu. Des analyses de Modigliani, de Hicks et de Hansen à une nouvelle idée de synthèse, par Gianluigi Socchi, Castella, 1977.
  • Macroeconomics and Finance. Essay in Honor of Franco Modigliani, par Rudiger Dornbusch, Stanley Fishier et John D. Bossons (dir.), MIT Press, 1987.
  • Franco Modigliani: Between Economic Theory and Social Commitment”, Banca Nazionale del Lavoro Quarterly Review no 233-234, vol. 18, juin-septembre 2005.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “Franco Modigliani ou le keynésianisme édulcoré” của G. Dostaler trong Alternatives Economiques Poche no.057, tháng 10 năm 2012

—-

[1] Entretien avec des économistes américains (Cuộc phỏng vấn với các nhà kinh tế học người Mỹ), tr. 160.

[2] Một biểu trưng đơn giản về sự vận hành của một nền kinh tế tuân theo các nguyên lý của Lý thuyết tổng quát.