Vị tha (học thuyết)

VỊ THA (HỌC THUYẾT)

Altruism

® Giải Nobel: BECKER, 1992

Hệ chuẩn về những cá thể ích kỉ có vai trò trội nhất trong sự phát triển của các khoa học kinh tế. Phương pháp điều tra này bắt nguồn từ những công trình của Adam Smith và lí thuyết bàn tay vô hình của ông theo đó những quyền lợi riêng vận động trong những cơ chế trao đổi dẫn đến một kết quả tối ưu cho xã hội. Tuy nhiên tất cả những sự kiện kinh tế không thể qui giản được về logic thị trường. Lòng nhân hay những chuyển nhượng trong nội bộ gia đình, như gia tài hay giáo dục, không tất yếu kéo theo tính có đi có lại đặc trưng của trao đổi.

Phân tích kinh tế đương đại, đặc biệt là tiếp sau những công trình của giải Nobel Gary Becker, đã giữ một khoảng cách với tiên đề truyền thống. Xã hội không được hợp thành từ những cá thể cô lập với nhau và chỉ quan tâm độc nhất đến lợi ích riêng của bản thân, nhưng từ những cá thể nằm trong một mớ quan hệ xã hội và cảm xúc. Vị tha là một giả thiết về sự phụ thuộc lẫn nhau của những sở thích cá thể đặt cá thể kinh tế trong bối cảnh xã hội của nó và cho phép mở rộng phân tích kinh tế ra những chuyển nhượng nằm ở bên ngoài thị trường. Lợi ích của một cá thể vị tha gồm hai yếu tố: lợi ích rút ra được từ những tiêu dùng của bản thân và sự thoả mãn tâm lí cảm nhận được khi bản thân là nhân chứng của sự thoả mãn của những người khác. Như thế cá thể đối mặt trước một đánh đổi giữa một sự thoả mãn trực tiếp gán với tiêu dùng của bản thân và một sự thoả mãn gián tiếp phụ thuộc vào tính vị tha, cá thể phân bổ những nguồn lực của mình cho tiêu dùng bản thân và cho một chuyển nhượng vị tha nhằm thu được sự thoả mãn tối đa. Những tình cảm vị tha không nhất thiết dẫn đến những chuyển nhượng vị tha: một người vị tha không tiến hành những chuyển nhượng nếu chi phí chuyển nhượng tính bằng tiêu dùng là cao hơn thu hoạch mà chuyển nhượng vị tha mang về cho mình. Tiếp tục đọc

Advertisements

Dự kiến duy lí

DỰ KIẾN DUY LÍ

Rational Expectations

® Giải Nobel: ARROW, 1972 – DEBREU, 1983 – LUCAS, 1995

Người ta nói rằng bài viết công bố năm 1961 trong tạp chí Econometrica dưới ngòi bút của John Muth không có mấy tiếng vang. Thế mà đó lại là bài viết báo hiệu một trong những chuyển động phong phú nhất của tư tưởng đương đại. Thuật ngữ “dự kiến duy lí”, được tựa bài nêu bật, đã trở thành một trong những từ chủ của phân tích kinh tế. Nội dung của bài dưới đây, do chính ngay sự thành công của thuật ngữ này, có những lựa chọn không hiển nhiên và chắc chắn là chủ quan.

Trước hết phải nói ngay là bài này không nhằm trình bày toàn bộ những công trình qui chiếu rõ ràng hay ngầm ẩn đến khái niệm dự kiến duy lí. Thật thế làm như vậy sẽ phải điểm qua hầu hết lí thuyết kinh tế hình thức hoá đương đại. Sau đây là một vài ví dụ. Tiếp tục đọc

Dự kiến

DỰ KIẾN

Expectations

® Giải Nobel: HAYEK, 1974 – MODIGLIANI, 1985 – MYRDAL, 1974

Nói rằng những dự kiến là quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến các hành vi là một điều tầm thường. Nhưng tính đến thật tốt nhận xét này trong việc phân tích những hiện tượng kinh tế, hay trong việc tìm kiếm những qui tắc cho những quyết định công cộng không phải là một điều hiển nhiên. Không những vì các dự kiến là mờ, bội và ít nhiều không ăn khớp nhau nhưng chúng còn phản ứng với tiến hoá của các hiện tượng hay cả với việc đề ra một số quyết định và tác động đến cả tiến hoá của các hiện tượng lẫn đến việc ra những quyết định này. Do đó có những phụ thuộc lẫn nhau phức tạp giữa những dự kiến và những giá trị thật sự đang và sẽ được hoàn thành. Tiếp tục đọc

Kinh tế học phát triển

KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Development economics

® Giải Nobel: LEWIS, 1979 – MIRRLEES, 1996 – SCHULTZ, 1979 – SEN, 1998

Đương nhiên là không thể định nghĩa kinh tế học phát triển độc lập với chính ngay khái niệm phát triển, một khái niệm có nhiều định nghĩa. Theo một nghĩa truyền thống đầu tiên, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng thu nhập trên đầu người, bền vững hay tự nuôi dưỡng và được phổ biến rộng trong những tầng lớp khác nhau của dân số. Theo một nghĩa thứ hai, phát triển là việc dân số lần hồi với tới được sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản hay đơn giản hơn là việc từ từ xoá đói giảm nghèo một cách lâu dài. Theo một nghĩa thứ ba, phát triển là việc cải thiện những năng lực con người, điều được A. Sen (Nobel kinh tế 1998), và trước đấy ở Pháp là F. Perroux, làm nổi bật một cách rõ ràng. Nhưng cũng có thể quan niệm phát triển như sự biến đổi của xã hội cho phép thu nhập trung bình tăng trưởng một cách bền vững và cộng dồn, sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo, cải thiện những năng lực của con người. Như thế kinh tế học phát triển là nhánh của khoa học kinh tế phân tích sự phát triển được hiểu như một trong những cách trên (xem những định nghĩa được nêu trong những tác phẩm tổng quát về phát triển trong vòng mười lăm năm qua, Gillis et al., 1989; Guillaumont, 1995; Ray, 1998). Tiếp tục đọc

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Myron Scholes (1941-)

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Damien Gaumont

Myriam S. Scholes sinh tại Timmins (tỉnh Ontario, Canada) năm 1941, cha là một nha sĩ và mẹ là một thương gia giàu có. Là một học sinh giỏi, cuộc đời của ông thay đổi năm 16 tuổi một phần sau cái chết của người mẹ và phần khác do bị rách giác mạc làm thị lực của ông giảm nhiều. Do không đọc được nữa, ông có thói quen lí luận trừu tượng và khái niệm hoá để tìm giải pháp cho những vấn đề ông gặp phải, đặc biệt là ở cương vị thủ quĩ của nhiều câu lạc bộ thiếu niên. Để tìm hiểu xác suất và rủi ro ông đánh cược nhiều và đầu tư vào chứng khoán. Để tìm hiểu thế giới kinh doanh thương mại ông làm việc với cậu của ông. Năm 26 tuổi, việc ghép giác mạc trả lại cho ông thị lực. Ông quan tâm đến khoa học kinh tế và đặc biệt hơn đến tài chính để tưởng nhớ mẹ ông đã từng muốn ông cộng tác với cậu ông để viết một cuốn sách quảng bá kinh doanh thương mại. Đi tìm một phương thức nhiệm mầu làm cho ông trở nên giàu có, ông đam mê tìm hiểu những nhân tố quyết định giá cả các chứng khoán. Ông tốt nghiệp cử nhân đại học McMaster Hamilton ở Canada. Việc khám phá những công trình của Stigler (Nobel 1982) và của Milton Friedman (Nobel 1976) gây cho ông ấn tượng mạnh. Ông quyết định tiếp tục học tại đại học Chicago. Ông gặp Michael Jensen, Richard Roll và Jack Gould, những người hướng dẫn ông trong những khám phá về lí thuyết tài chính. Ông quyết định không trở về làm với doanh nghiệp của cậu ông. Theo đề nghị của Merton Miller (Nobel 1990) ông làm luận án tiến sĩ tài chính và tốt nghiệp năm 1968. Ông trở thành giáo viên phụ đạo tại Sloan School of Management tại Massachussetts Institute of Technology và trở thành đồng nghiệp của Franco Modigliani (Nobel 1985), Stewart Myes và Paul Cootner. Ông gặp Fischer Black và Robert Merton (Nobel 1987), người tiến hành cùng ông một sự hợp tác có kết quả. Giáo sư thỉnh giảng của đại học Chicago từ 1973 đến 1974, ông được một công việc thường xuyên ở đây cho đến 1980 bằng cách hoạt động nhiều cho Trung tâm nghiên cứu giá cả các chứng khoán. Là giáo sư thỉnh giảng của đại học Standford năm 1981, ông có một chân giảng dạy thường xuyên năm 1983. Ông làm việc với William Sharpe (Nobel 1990). Là nhà tư vấn cho Salomon Brother Incorporation năm 1990, ông trở thành giám đốc công ti này và đặc biệt phụ trách những giao dịch trên các chứng khoán có thu nhập cố định từ 1992 đến 1993 và vừa giảng dạy tại đại học Standford và tiến hành những nghiên cứu. Năm 1994, cùng với một số đồng nghiệp ông sáng lập một công ti quản lí vốn dài hạn trong đó ông áp dụng những lí thuyết của mình. Là tiến sĩ danh dự của đại học Paris-Dauphine năm 1989, của đại học McMaster năm 1990, của đại học công giáo Louvain năm 1998, ông được Viện hoàng lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển biểu dương năm 1997. Tiếp tục đọc

Kinh tế học vĩ mô mới

KINH TẾ HỌC VĨ MÔ MỚI

New Macroeconomics

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – HAYEK, 1974 – LUCAS, 1995

Có lẽ ngày nay việc giảng dạy kinh tế vĩ mô là khó hơn cách đây ba mươi hay bốn mươi năm trước khi mà phân tích dựa trên một mô hình keynesian đơn giản hoá: biểu đồ 450, rồi mô hình IS-LM (hay mô hình Hicks-Hansen) được bổ sung trước tiên bằng một đường Phillips rồi sau đó tính đến những quan hệ với nước ngoài, thường là trong khuôn khổ của mô hình Mundell-Fleming, vốn chỉ là một biến thể của mô hình IS-LM.

Mô hình của sự tổng hợp và việc xét lại mô hình này

Trong nhiều thập niên, trình bày trên là cơ sở của kinh tế học vĩ mô. Cho đến tận những năm 1960, người ta chủ yếu quan tâm đến việc cải tiến và tinh vi hoá những hàm kinh tế vĩ mô chính (hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, v.v.). Người ta chứng minh, với giả thiết tính cứng nhắc của lương danh nghĩa, rằng những kết quả “keynesian” chính hoàn toàn tương hợp với một mô hình tân cổ điển truyền thống. Do điều thường được chấp nhận là lương còn xa mới linh hoạt trong ngắn hạn, nên hình như là một điều tự nhiên khi xem rằng lí thuyết keynesian là xác đáng cho việc nghiên cứu những biến động và mất cân bằng ngắn hạn, còn mô hình cân bằng chung vẫn còn xác đáng để phân tích dài hạn; như thế người ta có thể là một nhà keynesian trong ngắn hạn và là một nhà tân cổ điển trong dài hạn; đó là điều được gọi là trường phái của sự tổng hợp. Tiếp tục đọc

MERTON Robert C., sinh năm 1944

Robert Merton (1910-2003)

MERTON Robert C., sinh năm 1944

Damien Gaumont

Robert C. Merton sinh tại New York, Hoa Kì, năm 1944. Ông đỗ cử nhân toán cho các nhà kĩ sư của đại học Columbia năm 1966, rồi Master of Sciences về toán ứng dụng của California Institute of Technology năm 1967 trước khi tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế học của Massachussetts Institute of Technology năm 1970. Từ 1968 đến 1970 ông là phụ tá của Paul Samuelson (Nobel 1970) và là giảng viên tại khoa kinh tế của MIT từ 1969 đến 1970, rồi giảng viên về tài chính từ 1970 đến 1973, phó giáo sư từ 1973 đến 1974 rồi giáo sư tại Sloan School of Management tại MIT từ 1974 đến 1988. Giáo sư thỉnh giảng của đại học Harvard từ 1987 đến 1988, rồi tại đại học Nantes, Pháp, năm 1993, ông là giáo sư Harvard kể từ 1988. Song song với những văn bằng về tài chính, ông tốt nghiệp Master of Arts của đại học Harvard năm 1989, tiến sĩ luật của đại học Chicago năm 1991 là tiến sĩ danh dự của HEC ở Pháp năm 1995, của đại học Lausanne, Thuỵ Sĩ năm 1996, đại học Paris-Dauphine, Pháp năm 1997 và đại học quốc gia Tôn Dật Tiên ở Trung quốc năm 1998. Tiếp tục đọc