Tài nguyên thiên nhiên

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Natural Resources

Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực không do con người sản xuất nhưng lại có ích cho con người, hoặc như là một nhân tố sản xuất (gỗ, dầu lửa, than …), hoặc trực tiếp cho tiêu dùng (cá, thịt rừng, trái cây hoang dại …), một số tài nguyên, như nước, có cả hai cách sử dụng này. Trong số những tài nguyên này, đã có thông lệ phân biệt những tài nguyên có thể cạn kiệt với những tài nguyên tái sinh được. Loại tài nguyên đầu là những tài nguyên mà vận tốc tái sinh rất yếu. Đó là trường hợp của tất cả những khoáng sản (than, đồng …), ví dụ dầu lửa tự tái sản xuất trong những mỏ trầm tích trên một bậc thang thời gian địa chất, do đó quá chậm để có thể có ích cho con người trước khi những trữ lượng hiện nay cạn kiệt. Còn loại tài nguyên thứ hai có một nhịp độ tái sinh cho phép sử dụng chúng đến vô tận. Trong số này, cần phải phân biệt là việc tái sinh có bị mức khai thác tác động hay không. Do đó những tài nguyên tái sinh được nào bị mức khai thác tác động (cá, chim, rừng …) có thể bị cạn kiệt nếu ta không cảnh giác; đó không phải là trường hợp của những tài nguyên tái sinh được nào không bị mức khai thác tác động (năng lượng mặt trời hay năng lượng địa nhiệt …) Tiếp tục đọc

Advertisements

Thất nghiệp

THẤT NGHIỆP

Unemployment

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – LUCAS, 1995

Tầm quan trọng của thất nghiệp đang hoành hành ở châu Âu kể từ hơn hai thập niên nay đã gợi lên nhiều suy nghĩ về nguồn gốc của hiện tượng này và về những phương tiện chặn đứng nó. Tuy nhiên không phải tất cả các nước đều chịu tác động của thất nghiệp một cách giống nhau. Những thành tựu rất tốt của Hoa Kì vào cuối những năm 1990 cho thấy là thất nghiệp không phải là một hiện tượng không thể né tránh, do tiến bộ kĩ thuật gây nên bằng việc tiêu huỷ triệt để việc làm. Trong thực tế, xem xét diễn tiến của việc làm, dân số hoạt động và thất nghiệp trong những nước khác nhau của OECD từ 1960 đến 1990 cho thấy là duy chỉ châu Âu chịu tác động của một gia tăng liên tục của thất nghiệp trong thời kì này. Hơn nữa việc so sánh này, được trình bày trong phần đầu của bài viết, cho thấy rõ rằng gia tăng của thất nghiệp ở châu Âu là hệ quả của việc thiếu tạo ra việc làm, so với sự thiếu hụt này trong những vùng địa lí khác có được những kết quả tốt hơn về mặt thất nghiệp. Nhận định này giúp hiểu được vì sao những giải thích về thất nghiệp chủ yếu tập trung vào những nhân tố quyết định cầu lao động. Ở cương vị này, hai loại giải thích có tính đến sự thiếu hụt của việc tạo ra việc làm. Loại giải thích thứ nhất nhấn mạnh đến việc thiếu tiêu trường mà các doanh nghiệp gặp phải, trong lúc loại giải thích thứ hai nêu lên những vấn đề khả năng sinh lời mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Phân tích kinh tế nghiên cứu những điều kiện trong đó những vấn đề khác nhau này có thể nổi lên. Trên cơ sở này, phân tích kinh tế cho phép hiểu được tác động của những chính sách kinh tế vĩ mô, của khuôn khổ thể chế và cả tác động của tăng trưởng và tiến bộ kĩ thuật trên thất nghiệp. Tiếp tục đọc

Kinh tế học môi trường

hinhdaubai

KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG

Environmental Economics

-> Giải Nobel : COASE, 1991 – LEONTIEF, 1973

Arthur Cecil Pigou (1877-1959)
Arthur Cecil Pigou (1877-1959)

Chính trong những năm 1960 mà kinh tế học môi trường nổi lên như một bộ môn độc đáo. Sự xuống cấp của chất lượng không khí, nước và đất bị một bộ phận ngày càng lớn của xã hội cho là không thể chấp nhận. Các nhà kinh tế bị tra vấn thử đề xuất những giải pháp có tính chuẩn tắc cho những vấn đề mà việc quản lí môi trường đặt ra. Nếu Pigou mở đường cho việc phân tích những vấn đề ô nhiễm trong những năm 1920 thì việc còn lại là thích nghi những công cụ cổ điển có nguồn gốc từ kinh tế vi mô và kinh tế học công cộng và phát triển những công cụ thích hợp hơn với những đặc điểm riêng của những tài sản thiên nhiên. Những đóng góp chính của kinh tế học môi trường trước tiên liên quan đến việc xác định giá trị của những tài sản thiên nhiên. Vấn đề là xác định giá (hay giá trị) ẩn của những tài sản này nhằm quản lí tốt hơn việc sử dụng chúng và trả lời rõ ràng câu hỏi được các nhà chức trách đặt ra: đâu là lợi ích xã hội của việc bảo vệ những tài sản này hay chi phí của những thiệt hại nếu không bảo vệ chúng? Thứ hai những đóng góp này liên quan đến những công cụ điều tiết cho phép sửa hành vi của các cá thể (chuẩn, thuế, giấy phép lưu thông được) nhằm đạt được một chất lượng môi trường nhất định với chi phí thấp nhất cho xã hội. Tiếp tục đọc

Thanh khoản

THANH KHOẢN

Liquidity

® Giải Nobel: HICKS, 1972 – TOBIN, 1981

Thanh khoản chắc chắn là một trong những thuật ngữ được dùng nhiều nhất trong kinh tế học. Chúng tôi sẽ phân biệt thanh khoản trong số ít (liquidité) với thanh khoản trong số nhiều (liquidités) vốn là đồng nghĩa với tiền tệ hay phương tiện chi trả (ví dụ: les liquidités internationales). Nguồn gốc của thuật ngữ này không hoàn toàn rõ ràng. Đối với Hicks (1962), đây là một khái niệm keynesian, được chính ông ấy sử dụng ngay từ 1935 bằng cách qui chiếu về Chuyên luận về tiền tệ của Keynes (1930). Một số tác giả khác có những cách kiến giải khác và trích dẫn Fisher (1930) hay Menger (1930) nhiều hơn. Tuy nhiên chính Keynes là người đại chúng hoá thuật ngữ này trong Lí thuyết tổng quát (1936) trong đó ông đề xuất khái niệm ưa thích thanh khoản. Cuối những năm 1950 là thời kì khái niệm niệm này lên đến đỉnh điểm, đặc biệt là ở Anh với báo cáo Radcliffe.

Những nghiên cứu này và những nghiên cứu tiếp theo trong những năm 1960 sẽ cho phép mở rộng khái niệm trên. Khái niệm niệm rộng của thanh khoản được xác lập trong hai bước: một bước mà theo tinh thần của lí thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ nằm trong lĩnh vực tài chính với khái niệm rủi ro, và một bước khác mở rộng khái niệm này ra cho doanh nghiệp với việc tính đến sự bất trắc. Tiếp tục đọc

Thời gian

THỜI GIAN

Time

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – BECKER, 1992 – FRISCH, 1969 – HAYEK, 1974 – HICKS, 1972 – MODIGLIANI, 1985 – SEN, 1998 – SOLOW, 1987 – TOBIN, 1981

Trong phân tích kinh tế, việc xử lí thời gian là rất khác nhau; thời gian đã được hình dung như một thời lượng, hay như một thời điểm, như một sản phẩm và tất nhiên như một quá trình rời rạc hay liên tục mà đặc điểm thiết yếu có lẽ là tính không thể đảo ngược. Tiếp tục đọc

Tính kinh tế và phi kinh tế theo quy mô

TÍNH (PHI) KINH TẾ THEO QUI MÔ

Scale (Economies and diseconomies of)

Trong lúc khái niệm năng suất cận biên hay lợi tức cận biên của một nhân tố sản xuất liên quan đến quan hệ giữa một gia tăng của nhân tố này với gia tăng sau đó của số lượng sản xuất thì khái niệm hiệu suất theo qui mô liên quan đến quan hệ giữa một gia tăng đồng thời của tất cả các nhân tố sản xuất và gia tăng tiếp đó của số lượng sản xuất… Tiếp tục đọc

Kinh tế toán học

KINH TẾ TOÁN HỌC

Mathematical Economics

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – ARROW, 1972 – DEBREU, 1983 – HARSANYI, 1994 – KANTOROVITCH, 1975 – KLEIN, 1980 – NASH, 1994 – SEN, 1998.

Ngày nay kinh tế học hình thức hoá bao phủ một phổ cực kì rộng những chủ đề nghiên cứu – trong số này, có thể kể lí thuyết cân bằng chung, tài chính toán học, lí thuyết lựa chọn xã hội, lí thuyết trò chơi – vận dụng một số công cụ toán học còn đa dạng hơn nữa – từ topo đại số đến những phương trình đạo hàm riêng ngẫu nhiên qua đến phân tích tổ hợp, hình học vi phân, phân tích không trơn hay lí thuyết những hệ động hỗn độn. Đến độ mà điều gây ấn tượng truớc hết cho nhà toán học, có lẽ là sự sinh sôi nảy nở của những mô hình có vẻ là không hoà giải được. Có một mối liên hệ nào chăng về mặt khái niệm giữa định lí Gibbard-Satterthwwaite và folk theorem (định lí dân gian)? Mặt khác, trước một số phát triển có tính kĩ thuật của nhũng công trình đương đại, nhà kinh tế có thể nghi ngờ là bộ môn của mình chỉ là cái cớ cho những bài tập hình thức không có liên quan gì đến những mối bận tâm lí thuyết của mình. Ví dụ chứng minh sự tồn tại của giá trị Shapley trong khuôn khổ không khả vi (xem Mertens, 1988) có cải thiện được gì hiểu biết của chúng ta về các hiện tượng kinh tế? Tiếp tục đọc