Thế hệ đan chéo

THẾ HỆ ĐAN CHÉO

Overlapping Generations

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – SAMUELSON, 1970

Mô hình thế hệ đan chéo biểu trưng động thái của nền kinh tế có những thế hệ cá thể sống qua nhiều thời kì. Ở mỗi thời kì đều có những cuộc trao đổi giữa các tác nhân sống trong thời kì đó. Thường người ta nghiên cứu trường hợp của hai thời kì với những trao đổi giữa những tác nhân “trẻ” và “già”. Đời sống của nền kinh tế là vô tận.

Samuelson (1958) xét một nền kinh tế trao đổi, các tác nhân có những chu cấp ngoại sinh về sản phẩm tiêu dùng không lưu kho được. Không có trao đổi giữa người trẻ và người già, mỗi thế hệ sống trong vòng tự cung tự cấp. Sự có mặt của một sản phẩm sản phẩm tồn kho được nhưng không tiêu dùng được, “tiền tệ”, cho phép có những trao đổi giữa các thế hệ: người trẻ cung một phần chu cấp sản phẩm của mình đổi lấy tiền tệ do người già nắm giữ; khi bản thân họ trở nên già, vào thời kì sau, họ đề nghị đổi tiền này lấy những sản phẩm tiêu dùng được. Kiểu “tiền tệ” này không có lợi ích nội tại, nhưng được dùng làm phương tiện chuyển nhượng giá trị. Sự có mặt của nó có thể cải thiện phúc lợi của tất cả các thế hệ. Có sự không thể xác định những giá cân bằng, những giá này tuỳ thuộc vào những dự kiến của các tác nhân. Giả thiết những dự báo hoàn hảo không cho phép tháo gỡ tính không thể xác định này. Ta cũng có thể quan niệm những trao đổi giữa những người già và trẻ sống chung với nhau mà không có chỗ dựa rõ rệt. Đó là một cách tiếp cận cân bằng chung kiểu Arrow-Debreu theo đó tất cả các thị trường của tất cả các thời kì đều cân bằng hoàn hảo và đồng thời. Có một continuum những cân bằng như thế không biết đến thời gian trôi qua và vai trò của những dự kiến. Tiếp tục đọc

Advertisements

Kinh tế học công cộng (lí thuyết)

KINH TẾ HỌC CÔNG CỘNG (LÍ THUYẾT)

Public Economics Theory

® Giải Nobel: BUCHANAN, 1986 – SAMUELSON, 1970 – STIGLER, 1982 – VICKREY, 1996

Kinh tế học công cộng là một ngành của phân tích kinh tế xử lí hoạt động của Nhà nước. Hoạt động này trước tiên là một hoạt động phi thị trường (sản phẩm và dịch vụ được cung cấp miễn phí hay không có liên quan đến chi phí cận biên, tài trợ độc đoán bằng trưng thu thuế, những qui định và can thiệp tuỳ nghi). Nhưng hoạt động này cũng mang tính thị trường (doanh nghiệp công cộng bán trên thị trường, mua sắm sản phẩm và dịch vụ – “thị trường công cộng” – và những giao dịch tài trợ trên các thị trường vốn).

Nếu ta tự giới hạn ở định nghĩa tổng quát trên thì mọi sự can thiệp, thực tế hay tiềm tàng, của Nhà nước đều nằm trong diện của kinh tế học công cộng. Ta hiểu được vì sao bộ môn này luôn gặp rất nhiều khó khăn trong việc vạch rõ ranh giới của bộ môn và vì sao những mối quan tâm trọng yếu của bộ môn biến hoá nhiều với thời gian. Nhưng dù sao trong những năm gần đây, dường như tập quán đã công nhận một sự chuyên môn hoá nhất định các nhiệm vụ. Khi một vấn đề chính sách kinh tế liên quan đến một lĩnh vực được bao trùm bởi một thân lí thuyết khá phát triển (ví dụ kinh tế học quốc tế hay kinh tế học tiền tệ) thì người ta có xu hướng xem là vấn đề này thuộc về trách nhiệm của các chuyên gia của lĩnh vực đó. Mặt khác việc ưu tiên viện đến phân tích kinh tế vi mô đã cho phép phân biệt hoá tốt hơn kinh tế học công cộng với những phân tích chính sách riêng của lí thuyết kinh tế vĩ mô. Nhưng sự cân bằng đạt được trong việc phân công lao động trên là mong manh vì: 1) lí thuyết kinh tế vĩ mô có xu hướng đào sâu những cơ sở kinh tế vi mô của mình; 2) sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nước làm nảy sinh nhiều vấn đề lí thuyết mới, đặc biệt liên quan đến sự cạnh tranh giữa những khu vực công cộng của các quốc gia và ranh giới của những bộ môn vẫn chưa được xác định – nếu giả định là nên vạch ra những ranh giới như thế; 3) mối quan tâm của kinh tế học công cộng đã dịch chuyển dần những năm gần đây. Cho dù ngành này vẫn còn mang nặng tính “chuẩn tắc” (tìm kiếm điều gì Nhà nước phải làm – những chính sách kinh tế tối ưu) thì kinh tế học công cộng ngày càng trở nên “thực chứng” hơn (nghiên cứu Nhà nước như là nó, giải thích và dự báo những chính sách kinh tế được thật sự áp dụng). Nội dung của điều ngày nay được gọi là kinh tế học công cộng do đó còn thay đổi nhiều trong những năm tới. Tiếp tục đọc

Ngoại ứng (hiệu ứng ngoại lai)

NGOẠI ỨNG (HIỆU ỨNG NGOẠI LAI)

Externality

® Giải Nobel: BUCHANAN, 1986 – COASE, 1991 – MEADE, 1977

Một ngoại ứng, hay hiệu ứng ngoại lai, theo định nghĩa, là tác động một tác nhân phải gánh chịu (tác nhân này là người tiếp nhận ngoại ứng) và không được bù đắp trong khuôn khổ của một trao đổi hay của một thị trường, của một hành động sản xuất hay tiêu dùng của một tác nhân kinh tế khác (người phát ra ngoại ứng). Ngoại ứng có thể là tiêu cực (âm) hay tích cực (dương) đối với lợi ích của tác nhân tiếp nhận. Ví dụ, một tác hại hay một ô nhiễm do một hành động sản xuất hay tiêu dùng gây ra là một ngoại ứng tiêu cực nếu nó làm phương hại đến sự thoả mãn của một tác nhân khác, không liên quan đến hành động trao đổi hay sản xuất này. Một loại ngoại ứng quan trọng là những ngoại ứng liên quan đến môi trường thiên nhiên (ngoại ứng môi trường). Thật vậy, môi trường thiên nhiên gồm có những sản phẩm có ích, nhưng không được phân phối bằng thị trường: môi trường được sử dụng một cách miễn phí, hoặc như là nơi tiếp nhận chất thải, hoặc là như chỗ dựa của những dịch vụ môi trường, ví dụ những dịch vụ giải trí. Như vậy, mọi hành động sản xuất hay tiêu dùng có thể dẫn đến một ngoại ứng môi trường, một ngoại ứng tiêu cực nếu làm tổn hại đến những dịch vụ môi trường này và là một ngoại ứng tích cực nếu củng cố chúng. Tiếp tục đọc

Chi phí-lợi thế (hay phân tích chi phí-lợi ích)

CHI PHÍ-LỢI THẾ (HAY PHÂN TÍCH CHI PHÍ-LỢI ÍCH)

Cost-benefit analysis

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – MIRRLEES, 1996

Một cách logic hạch toán kinh tế tự khẳng định như là phương thức hợp lí hoá những lựa chọn trong những vấn đề kinh tế học công cộng. Phương pháp này thuộc về những kĩ thuật được gọi là cost-benefit analysis (analyse coût-bénéfice) mà ở Pháp ta gọi là “phân tích chi phí-lợi thế” (analyse coût-avantage hay ACA). Những phân tích này được khởi xướng ở Hoa Kì vào đầu thế kỉ XX để xác định lợi ích xã hội của những dự án công cộng lớn huy động những vốn quan trọng và có những tác động kinh tế hay xã hội tiềm tàng đáng kể. Những ứng dụng cụ thể bắt đầu vào năm 1902 với đạo luật River and Harbor Act qui định những cơ sở trên sông và bến cảng. Chi phí kinh tế của những đầu tư công cộng lớn này được ước lượng bằng cách tính đến tác động xã hội của những hiệu ứng của những đầu tư này trên lưu lượng, hoạt động kinh tế và phúc lợi tập thể. Lĩnh vực ứng dụng điển hình nhất cho phân tích này bao phủ diện của những cơ sở hạ tầng đường bộ, những công trình lớn qui hoạch lãnh thổ, qui hoạch đô thị, năng lượng. Do đó phân tích có thiên hướng phát triển đại trà và được phổ biến rộng trong những nước Tây phương sau thế chiến thứ hai. Đặc biệt đó là trường hợp của Anh về mặt giao thông vận tải và điện lực, rồi trễ hơn ở Pháp, kể từ 1967, cho việc đánh giá những dự án công cộng lớn trong những ngành sản sinh ra hoặc những lợi thế tăng dần (năng lượng, vận tải công cộng), hoặc những ngoại ứng và do đó đòi hỏi những suy tư lí thuyết, đặc biệt là để xác định những phương thức định giá tối ưu. Những nghiên cứu này được Maurice Allais (1943), Marcel Boiteux (1956; 1962), Henri Levy-Lambert (1973), Edmond Malinvaud (1972; 1979) và Jean-Claude Milleron (1972; 1979) phát triển và đặc trưng cho điều được gọi là việc “hợp lí hoá những lựa chọn ngân sách”. Nhiệt tình dành cho những kĩ thuật xác định giá trị này nhanh chóng giảm dần ở Pháp ngay từ cuối những năm 1970.

Tuy nhiên những cơ sở của phương pháp đánh giá những lựa chọn công cộng này bắt nguồn từ Jules Dupuit (1844) do việc đánh giá một dự án được xác định bằng khái niệm thặng dư tập thể để ước lượng tác động xã hội thuần của những đầu tư đã thực hiện. Do đó ACA hiện ra như một phương pháp lựa chọn tối ưu dựa trên tiêu chí khả năng sinh lời xã hội tối đa đòi hỏi một ước lượng tiền tệ những lợi thế và chi phí gắn với dự án được xem xét. Do đó qui tắc hàng đầu thuộc về nguyên lí hiệu quả kinh tế và khác biệt rất rõ với nguyên lí của nghĩa vụ dịch vụ công cộng đặt cơ sở trên nguyên lí công bằng giữa các tác nhân trước dịch vụ cung cấp, độc lập với chi phí xã hội phải gánh chịu. Những công trình lí thuyết trong lĩnh vực này được phát triển trong những năm 1950 đến 1970 dưới sự thúc đẩy của nhiều nhà kinh tế trong đại học như P. S. Dasgupta, O. Eckstein, J. Krutilla, R. Dorfman, J. Margolis, S. Marglin, B. Weisbrod. Tiếp tục đọc

Hỗn độn

HỖN ĐỘN

Chaos

Thuật ngữ hỗn độn được áp dụng cho một hành vi của những chuỗi thời gian mà những giá trị nối tiếp nhau rất bị nhiễu, không dự báo được trong lúc chúng lại biến hoá trong một không gian bị chặn và chuỗi sinh ra bởi một động thái hoàn toàn tất định, nghĩa là không có chỗ cho ngẫu nhiên. Tuy nhiên, ý cho rằng những chuyển động thất thường có thể do một quá trình tất định sinh ra không phải là một ý mới và khiá cạnh mới của hiện tượng này nằm ở bản chất và tính chất của động thái này: động thái này phải là phi tuyến tính và có bậc tự do thấp, nghĩa là có sự can dự của rất ít biến (hai hay ba biến đủ để sinh ra hỗn độn). Đặc tính chính của động thái này là tính nhạy cảm với những điều kiện ban đầu: hay hiệu ứng bươm bướm: một thay đổi vi phân của những điều kiện ban đầu có thể có những hệ quả lớn trên quĩ đạo. Chính xác hơn, một nhiễu loạn nhỏ có thể kéo theo một phân kì kiểu hàm mũ của quĩ đạo. Hiện tượng này là nguồn gốc của vấn đề không thể dự báo mà các lí thuyết gia về hỗn độn phải đối mặt: tính không chính xác (vả lại không thể tránh được) trong việc hiểu biết những điều kiện ban đầu ngăn cấm mọi dự báo ngắn hạn của chuỗi. Tiếp tục đọc

Tài nguyên thiên nhiên

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Natural Resources

Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực không do con người sản xuất nhưng lại có ích cho con người, hoặc như là một nhân tố sản xuất (gỗ, dầu lửa, than …), hoặc trực tiếp cho tiêu dùng (cá, thịt rừng, trái cây hoang dại …), một số tài nguyên, như nước, có cả hai cách sử dụng này. Trong số những tài nguyên này, đã có thông lệ phân biệt những tài nguyên có thể cạn kiệt với những tài nguyên tái sinh được. Loại tài nguyên đầu là những tài nguyên mà vận tốc tái sinh rất yếu. Đó là trường hợp của tất cả những khoáng sản (than, đồng …), ví dụ dầu lửa tự tái sản xuất trong những mỏ trầm tích trên một bậc thang thời gian địa chất, do đó quá chậm để có thể có ích cho con người trước khi những trữ lượng hiện nay cạn kiệt. Còn loại tài nguyên thứ hai có một nhịp độ tái sinh cho phép sử dụng chúng đến vô tận. Trong số này, cần phải phân biệt là việc tái sinh có bị mức khai thác tác động hay không. Do đó những tài nguyên tái sinh được nào bị mức khai thác tác động (cá, chim, rừng …) có thể bị cạn kiệt nếu ta không cảnh giác; đó không phải là trường hợp của những tài nguyên tái sinh được nào không bị mức khai thác tác động (năng lượng mặt trời hay năng lượng địa nhiệt …) Tiếp tục đọc

Thất nghiệp

THẤT NGHIỆP

Unemployment

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – LUCAS, 1995

Tầm quan trọng của thất nghiệp đang hoành hành ở châu Âu kể từ hơn hai thập niên nay đã gợi lên nhiều suy nghĩ về nguồn gốc của hiện tượng này và về những phương tiện chặn đứng nó. Tuy nhiên không phải tất cả các nước đều chịu tác động của thất nghiệp một cách giống nhau. Những thành tựu rất tốt của Hoa Kì vào cuối những năm 1990 cho thấy là thất nghiệp không phải là một hiện tượng không thể né tránh, do tiến bộ kĩ thuật gây nên bằng việc tiêu huỷ triệt để việc làm. Trong thực tế, xem xét diễn tiến của việc làm, dân số hoạt động và thất nghiệp trong những nước khác nhau của OECD từ 1960 đến 1990 cho thấy là duy chỉ châu Âu chịu tác động của một gia tăng liên tục của thất nghiệp trong thời kì này. Hơn nữa việc so sánh này, được trình bày trong phần đầu của bài viết, cho thấy rõ rằng gia tăng của thất nghiệp ở châu Âu là hệ quả của việc thiếu tạo ra việc làm, so với sự thiếu hụt này trong những vùng địa lí khác có được những kết quả tốt hơn về mặt thất nghiệp. Nhận định này giúp hiểu được vì sao những giải thích về thất nghiệp chủ yếu tập trung vào những nhân tố quyết định cầu lao động. Ở cương vị này, hai loại giải thích có tính đến sự thiếu hụt của việc tạo ra việc làm. Loại giải thích thứ nhất nhấn mạnh đến việc thiếu tiêu trường mà các doanh nghiệp gặp phải, trong lúc loại giải thích thứ hai nêu lên những vấn đề khả năng sinh lời mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Phân tích kinh tế nghiên cứu những điều kiện trong đó những vấn đề khác nhau này có thể nổi lên. Trên cơ sở này, phân tích kinh tế cho phép hiểu được tác động của những chính sách kinh tế vĩ mô, của khuôn khổ thể chế và cả tác động của tăng trưởng và tiến bộ kĩ thuật trên thất nghiệp. Tiếp tục đọc