Tăng trưởng tối ưu

TĂNG TRƯỞNG TỐI ƯU

Optimal Growth

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – ARROW, 1972 – SAMUELSON, 1970 – SOLOW, 1987

Kenneth Arrow (1921-2017)
John Rawls (1921-2002)

Vấn đề công bằng và phúc lợi xã hội, đối tượng của nhiều nghiên cứu tĩnh vẫn là một vấn đề khó đề cập và ít được nghiên cứu trong một cách nhìn động. Một lí do nội tại là tính không thể đảo ngược của thời gian. Một thế hệ có thể hi sinh cho những thế hệ tương lai hay ngược lại phung phí những nguồn lực sẵn có với số lượng giới hạn; nhưng những thế hệ tương lai không thể bù đắp một hi sinh đã qua cũng như không thể đòi hỏi một “phần công bằng” khi chưa ra đời. Ý tưởng bình đẳng thường đối lập với ý tưởng tiến bộ. Arrow đã chỉ ra là việc áp dụng tiêu chí của Rawls vào những thế hệ nối tiếp nhau có hệ quả là làm ngưng tăng trưởng; Rawls đã thừa nhận là tiêu chí maximin không thể áp dụng được để xác định một tỉ suất tiết kiệm công bằng (bài viết của Arrow được công bố năm 1973 trong Sweedish Journal of Economics, bài của Rawls trong American Economic Review năm 1974)

Trình bày dưới đây về tăng trưởng tối ưu chỉ nhằm vào vài yếu tố trung tâm: mô hình Ramsey, qui tắc vàng và tối ưu dài hạn, tỉ suất ưa thích hiện tại và cuối cùng là quan hệ giữa nhà làm kế hoạch và người tiêu dùng tiêu biểu với tuổi thọ vô tận. Tiếp tục đọc

Advertisements

Nhân tố sản xuất

NHÂN TỐ SẢN XUẤT

Factor of production

Một nhân tố sản xuất là một yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất và cho phép tạo ra sản phẩm. Đó có thể là những “nhân tố sơ cấp” hay “tự nhiên”, như đất đai, lao động hay là những “nhân tố được sản xuất”. Trong những biểu trưng đơn giản hoá của quá trình sản xuất, người ta thường giả định là chỉ có hai nhân tố sản xuất: “lao động” và tư bản”. Đó là tư bản “cố định” nếu nhân tố sản xuất được dùng trong nhiều thời kì (thường là một năm) trong quá trình sản xuất. Ngược lại, tư bản được gọi là “lưu động” nếu bị tiêu hủy trong quá trình sử dụng, hoặc bằng cách được hàm chứa trong sản phẩm mới được chế tạo (trường hợp của nguyên vật liệu), hoặc bị tiêu hủy trực tiếp trong sử dụng (trường hợp của năng lượng …). Tiếp tục đọc

Vị tha (học thuyết)

VỊ THA (HỌC THUYẾT)

Altruism

® Giải Nobel: BECKER, 1992

Hệ chuẩn về những cá thể ích kỉ có vai trò trội nhất trong sự phát triển của các khoa học kinh tế. Phương pháp điều tra này bắt nguồn từ những công trình của Adam Smith và lí thuyết bàn tay vô hình của ông theo đó những quyền lợi riêng vận động trong những cơ chế trao đổi dẫn đến một kết quả tối ưu cho xã hội. Tuy nhiên tất cả những sự kiện kinh tế không thể qui giản được về logic thị trường. Lòng nhân hay những chuyển nhượng trong nội bộ gia đình, như gia tài hay giáo dục, không tất yếu kéo theo tính có đi có lại đặc trưng của trao đổi.

Phân tích kinh tế đương đại, đặc biệt là tiếp sau những công trình của giải Nobel Gary Becker, đã giữ một khoảng cách với tiên đề truyền thống. Xã hội không được hợp thành từ những cá thể cô lập với nhau và chỉ quan tâm độc nhất đến lợi ích riêng của bản thân, nhưng từ những cá thể nằm trong một mớ quan hệ xã hội và cảm xúc. Vị tha là một giả thiết về sự phụ thuộc lẫn nhau của những sở thích cá thể đặt cá thể kinh tế trong bối cảnh xã hội của nó và cho phép mở rộng phân tích kinh tế ra những chuyển nhượng nằm ở bên ngoài thị trường. Lợi ích của một cá thể vị tha gồm hai yếu tố: lợi ích rút ra được từ những tiêu dùng của bản thân và sự thoả mãn tâm lí cảm nhận được khi bản thân là nhân chứng của sự thoả mãn của những người khác. Như thế cá thể đối mặt trước một đánh đổi giữa một sự thoả mãn trực tiếp gán với tiêu dùng của bản thân và một sự thoả mãn gián tiếp phụ thuộc vào tính vị tha, cá thể phân bổ những nguồn lực của mình cho tiêu dùng bản thân và cho một chuyển nhượng vị tha nhằm thu được sự thoả mãn tối đa. Những tình cảm vị tha không nhất thiết dẫn đến những chuyển nhượng vị tha: một người vị tha không tiến hành những chuyển nhượng nếu chi phí chuyển nhượng tính bằng tiêu dùng là cao hơn thu hoạch mà chuyển nhượng vị tha mang về cho mình. Tiếp tục đọc

Dự kiến duy lí

DỰ KIẾN DUY LÍ

Rational Expectations

® Giải Nobel: ARROW, 1972 – DEBREU, 1983 – LUCAS, 1995

Người ta nói rằng bài viết công bố năm 1961 trong tạp chí Econometrica dưới ngòi bút của John Muth không có mấy tiếng vang. Thế mà đó lại là bài viết báo hiệu một trong những chuyển động phong phú nhất của tư tưởng đương đại. Thuật ngữ “dự kiến duy lí”, được tựa bài nêu bật, đã trở thành một trong những từ chủ của phân tích kinh tế. Nội dung của bài dưới đây, do chính ngay sự thành công của thuật ngữ này, có những lựa chọn không hiển nhiên và chắc chắn là chủ quan.

Trước hết phải nói ngay là bài này không nhằm trình bày toàn bộ những công trình qui chiếu rõ ràng hay ngầm ẩn đến khái niệm dự kiến duy lí. Thật thế làm như vậy sẽ phải điểm qua hầu hết lí thuyết kinh tế hình thức hoá đương đại. Sau đây là một vài ví dụ. Tiếp tục đọc

Dự kiến

DỰ KIẾN

Expectations

® Giải Nobel: HAYEK, 1974 – MODIGLIANI, 1985 – MYRDAL, 1974

Nói rằng những dự kiến là quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến các hành vi là một điều tầm thường. Nhưng tính đến thật tốt nhận xét này trong việc phân tích những hiện tượng kinh tế, hay trong việc tìm kiếm những qui tắc cho những quyết định công cộng không phải là một điều hiển nhiên. Không những vì các dự kiến là mờ, bội và ít nhiều không ăn khớp nhau nhưng chúng còn phản ứng với tiến hoá của các hiện tượng hay cả với việc đề ra một số quyết định và tác động đến cả tiến hoá của các hiện tượng lẫn đến việc ra những quyết định này. Do đó có những phụ thuộc lẫn nhau phức tạp giữa những dự kiến và những giá trị thật sự đang và sẽ được hoàn thành. Tiếp tục đọc

Kinh tế học phát triển

KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Development economics

® Giải Nobel: LEWIS, 1979 – MIRRLEES, 1996 – SCHULTZ, 1979 – SEN, 1998

Đương nhiên là không thể định nghĩa kinh tế học phát triển độc lập với chính ngay khái niệm phát triển, một khái niệm có nhiều định nghĩa. Theo một nghĩa truyền thống đầu tiên, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng thu nhập trên đầu người, bền vững hay tự nuôi dưỡng và được phổ biến rộng trong những tầng lớp khác nhau của dân số. Theo một nghĩa thứ hai, phát triển là việc dân số lần hồi với tới được sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản hay đơn giản hơn là việc từ từ xoá đói giảm nghèo một cách lâu dài. Theo một nghĩa thứ ba, phát triển là việc cải thiện những năng lực con người, điều được A. Sen (Nobel kinh tế 1998), và trước đấy ở Pháp là F. Perroux, làm nổi bật một cách rõ ràng. Nhưng cũng có thể quan niệm phát triển như sự biến đổi của xã hội cho phép thu nhập trung bình tăng trưởng một cách bền vững và cộng dồn, sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo, cải thiện những năng lực của con người. Như thế kinh tế học phát triển là nhánh của khoa học kinh tế phân tích sự phát triển được hiểu như một trong những cách trên (xem những định nghĩa được nêu trong những tác phẩm tổng quát về phát triển trong vòng mười lăm năm qua, Gillis et al., 1989; Guillaumont, 1995; Ray, 1998). Tiếp tục đọc

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Myron Scholes (1941-)

SCHOLES Myron S., sinh năm 1941

Damien Gaumont

Myriam S. Scholes sinh tại Timmins (tỉnh Ontario, Canada) năm 1941, cha là một nha sĩ và mẹ là một thương gia giàu có. Là một học sinh giỏi, cuộc đời của ông thay đổi năm 16 tuổi một phần sau cái chết của người mẹ và phần khác do bị rách giác mạc làm thị lực của ông giảm nhiều. Do không đọc được nữa, ông có thói quen lí luận trừu tượng và khái niệm hoá để tìm giải pháp cho những vấn đề ông gặp phải, đặc biệt là ở cương vị thủ quĩ của nhiều câu lạc bộ thiếu niên. Để tìm hiểu xác suất và rủi ro ông đánh cược nhiều và đầu tư vào chứng khoán. Để tìm hiểu thế giới kinh doanh thương mại ông làm việc với cậu của ông. Năm 26 tuổi, việc ghép giác mạc trả lại cho ông thị lực. Ông quan tâm đến khoa học kinh tế và đặc biệt hơn đến tài chính để tưởng nhớ mẹ ông đã từng muốn ông cộng tác với cậu ông để viết một cuốn sách quảng bá kinh doanh thương mại. Đi tìm một phương thức nhiệm mầu làm cho ông trở nên giàu có, ông đam mê tìm hiểu những nhân tố quyết định giá cả các chứng khoán. Ông tốt nghiệp cử nhân đại học McMaster Hamilton ở Canada. Việc khám phá những công trình của Stigler (Nobel 1982) và của Milton Friedman (Nobel 1976) gây cho ông ấn tượng mạnh. Ông quyết định tiếp tục học tại đại học Chicago. Ông gặp Michael Jensen, Richard Roll và Jack Gould, những người hướng dẫn ông trong những khám phá về lí thuyết tài chính. Ông quyết định không trở về làm với doanh nghiệp của cậu ông. Theo đề nghị của Merton Miller (Nobel 1990) ông làm luận án tiến sĩ tài chính và tốt nghiệp năm 1968. Ông trở thành giáo viên phụ đạo tại Sloan School of Management tại Massachussetts Institute of Technology và trở thành đồng nghiệp của Franco Modigliani (Nobel 1985), Stewart Myes và Paul Cootner. Ông gặp Fischer Black và Robert Merton (Nobel 1987), người tiến hành cùng ông một sự hợp tác có kết quả. Giáo sư thỉnh giảng của đại học Chicago từ 1973 đến 1974, ông được một công việc thường xuyên ở đây cho đến 1980 bằng cách hoạt động nhiều cho Trung tâm nghiên cứu giá cả các chứng khoán. Là giáo sư thỉnh giảng của đại học Standford năm 1981, ông có một chân giảng dạy thường xuyên năm 1983. Ông làm việc với William Sharpe (Nobel 1990). Là nhà tư vấn cho Salomon Brother Incorporation năm 1990, ông trở thành giám đốc công ti này và đặc biệt phụ trách những giao dịch trên các chứng khoán có thu nhập cố định từ 1992 đến 1993 và vừa giảng dạy tại đại học Standford và tiến hành những nghiên cứu. Năm 1994, cùng với một số đồng nghiệp ông sáng lập một công ti quản lí vốn dài hạn trong đó ông áp dụng những lí thuyết của mình. Là tiến sĩ danh dự của đại học Paris-Dauphine năm 1989, của đại học McMaster năm 1990, của đại học công giáo Louvain năm 1998, ông được Viện hoàng lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển biểu dương năm 1997. Tiếp tục đọc