Habermas – Hướng đến sự phân cực dân chủ: Làm thế nào để hạ bệ Chủ nghĩa dân túy cánh hữu

HƯỚNG ĐẾN SỰ PHÂN CỰC DÂN CHỦ: LÀM THẾ NÀO ĐỂ HẠ BỆ CHỦ NGHĨA DÂN TÚY CÁNH HỮU

Jürgen Habermas

Biên tập viên của tờ Blätter: Sau năm 1989, người ta nói về “sự cáo chung của lịch sử” trong nền dân chủ và nền kinh tế thị trường, và ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự xuất hiện một hiện tượng mới của sự lãnh đạo độc tài-dân túy – từ ông Putin qua ông Erdogan đến ông Donald Trump. Rõ ràng, một “quốc tế độc tài” (autoritären Internationale / authoritarian International) mới đang ngày càng thành công trong việc xác lập diễn ngôn chính trị. Liệu người đồng tuế Ralf Dahrendorf của ông [Habermas] đã đúng khi tiên đoán về một thế kỉ XXI độc tài? Liệu người ta có thể, hay phải nói về một bước ngoặt lịch sử?

Francis Fukuyama (1952-)
Ralf Dahrendorf (1929-2009)

Jürgen Habermas: Sau giai đoạn biến chuyển 1989 – 1990, khi [Francis] Fukuyama chộp lấy khẩu hiệu “hậu-lịch sử” bắt nguồn từ chủ nghĩa bảo thủ độc đoán, thì qua sự tái diễn giải của ông, cho thấy thái độ hân hoan chiến thắng (Triumphalismus / Triumphalism) thiển cận của giới tinh hoa phương Tây, những người ủng hộ niềm tin tự do vào sự hài hòa tiền lập giữa nền kinh tế thị trường và nền dân chủ. Cả hai yếu tố này tạo nên động lực của sự hiện đại hóa xã hội, nhưng lại kết hợp với các “mệnh lệnh chức năng”, những thứ luôn dẫn tới xung đột. Sự cân bằng giữa tăng trưởng tư bản chủ nghĩa và sự tham gia có vẻ như công bằng xã hội một cách nửa vời của người dân vào sự tăng trưởng trung bình của các nền kinh tế sản xuất hàng hóa ở trình độ cao chỉ có thể có được nhờ một nhà nước dân chủ xứng đáng với tên gọi này. Một sự cân bằng như thế – để biện minh cho cái tên “nền dân chủ tư bản chủ nghĩa” – về mặt lịch sử, lại là một ngoại lệ hơn là một quy luật. Chính vì lí do đó mà ý tưởng về một sự củng cố “giấc mơ Mỹ” trên bình diện toàn cầu chỉ là một ảo tưởng mà thôi. Tiếp tục đọc

Phát triển

PHÁT TRIỂN

Paul Bairoch*

1. Một khái niệm mới cho một hiện tượng xưa

Trong một bộ bách khoa về những vấn đề kinh tế, thuật ngữ “phát triển” tự nó kéo theo tính từ “kinh tế”. Vả lại, trong tiếng Anh, “economic development” được dùng nhiều hơn là “development” không thôi. Tuy nhiên điều này không đủ để làm rõ khái niệm phát triển; nhất là nghĩa này của thuật ngữ là mới có gần đây; như thế trong tiếng Pháp nó xuất hiện vào cuối những năm 1950 (xem phiếu số 1 Lịch sử của thuật ngữ phát triển). Thuật ngữ phát triển bắt nguồn từ thuật ngữ chậm phát triển, từ việc ý thức khoảng cách kinh tế ngày càng tăng ngăn cách thế giới phát triển với thế giới thứ ba. Mặt khác -và, qua điều này, nội dung mang nặng cảm xúc càng nổi bật- chỉ mới vừa được dùng, thuật ngữ chậm phát triển, và đặc biệt là những nước chậm phát triển, bị phê phán kịch liệt. Rất nhanh nó được thay thế, đặc biệt trong khuôn khổ của những tổ chức quốc tế năm 1965, bởi thuật ngữ vô cùng sai lầm là các nước đang phát triển. Xin được nhắc là thuật ngữ “thế giới thứ ba” do Alfred Sauvy sáng tạo ngay từ năm 1952 (trong bài viết của ông “Trois mondes, une planète” [Ba thế giới, một hành tinh], Nouvel Observateur [Người quan sát mới], 14 tháng tám) và sự thành công của thuật ngữ này vượt ra ngoài phạm vi những nước dùng tiếng Pháp, dù nó qui chiếu về đẳng cấp thứ ba[1]. Tiếp tục đọc

Trào lưu chính thống và phi chính thống trong kinh tế học phát triển

TRÀO LƯU CHÍNH THỐNG VÀ PHI CHÍNH THỐNG TRONG KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Marc Raffinot

Marc Raffinot

Với sự ngự trị của trào lưu phi chính thống vào những năm 1960 và 1970, rồi của trào lưu chính thống tân tự do vào những năm 1980, kinh tế học phát triển có xu hướng làm mờ đi các ranh giới. Ví dụ, có rất nhiều thành quả kinh tế học “phi chính thống” từ nay sẽ là những sản phẩm trong khung lý thuyết của kinh tế học dòng chính [mainstream].

Kinh tế học phát triển là đối tượng của một sự quan tâm đặc biệt đối với những ai mong muốn đào sâu cuộc tranh luận lặp đi lặp lại giữa kinh tế học chính thống và phi chính thống. Thật vậy, việc thành lập nhánh kinh tế học này vào những năm 1950 bắt nguồn từ một phản ứng chống lại kinh tế học “dòng chính” (kinh tế học chuẩn, tân cổ điển). Hơn nữa, việc phân tích kinh tế học phát triển cung cấp một cuộc kiểm định tuyệt vời về tính xác đáng của những hành vi được giả định bởi kinh tế học chuẩn, ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô. Việc các hành vi đôi khi diễn ra một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt là tại những nước có thu nhập thấp (LIC, Low Income Countries), và ngày càng đi chệch xa khỏi các hành vi được coi là “duy lý” (theo nghĩa hẹp của thuật ngữ) hoặc đơn giản là “bình thường”, tại châu Âu hay Hoa Kỳ, đã ngay lập tức đặt thành vấn đề.

Bên cạnh đó, kinh tế học phát triển tất yếu quan tâm đến những lĩnh vực ở đấy nó cạnh tranh với các ngành khoa học xã hội khác. Thật vậy, đối tượng của chuyên ngành này là sự thay đổi của các nền kinh tế, và rộng hơn là sự thay đổi của các xã hội. Hầu hết các khoa học xã hội khác cũng quan tâm đến sự thay đổi này, tạo ra một sự “cọ sát” liên tục. Điều đáng tiếc, có lẽ do sự phân chia thành một số bộ môn, nên điều xảy ra thường xuyên nhất là những lời kêu gọi nghiên cứu đa ngành, gần như không bao giờ được triển khai một cách nghiêm túc (trong trường hợp tốt nhất, có một số khái niệm hoặc phân tích của các bộ môn khác được ghép với ít nhiều thành công từ bộ môn này sang bộ môn khác).

Kinh tế học phát triển đã trải qua, liên quan đến các mối quan hệ giữa trường phái chính thống và phi chính thống, ba thời kỳ được định ranh khá rõ, mà chúng tôi sẽ trình bày để chỉ ra bằng cách nào hai cực phân tích này tự bản thân đã biến đổi. Do hai thời kỳ đầu là chủ đề của rất nhiều công trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào thời kỳ thứ ba, lựa chọn một số ví dụ để minh họa cho phương pháp này. Tiếp tục đọc

Giáo dục nào cho Tương lai?

GIÁO DỤC NÀO CHO TƯƠNG LAI?[1]

Nguyễn Xuân Xanh

Thích nghi hay tiêu vong, mãi mãi là mệnh lệnh nghiệt ngã của tự nhiên.

H.G. Wells

Một lược sử thế giới, 1922

[Mục đích giáo dục? Cách mạng công nghiệp thế giới. Mục đích đại học. Môi trường thông minh. Tương lai nào cho chúng ta?]

Mori Arinori (1847-1889)

Thứ nhất. Mục đích giáo dục.

Để mở đầu, xin được trích dẫn những lời sắc bén của Vị bộ trưởng giáo dục đầu tiên Mori Arinori của Nhật Bản Minh Trị như một Tuyên ngôn cho ngành giáo dục của đất nước Phù Tang trước thềm cuộc Duy Tân vĩ đại 1868 như sau:

Chiến tranh (sensō) không phải chỉ là đánh nhau bằng súng đạn và giết nhau, mà tất cả mọi người Nhật phải được tham gia ngay từ bây giờ vào cuộc chiến tranh của kỹ năng, kỹ năng của cuộc sống, của công nghiệp, thương mại, tri thức. Và đào tạo thầy giáo phải dựa trên sự chuẩn bị cho cuộc chiến này. Thua cuộc chiến này là sẽ thua cuộc chiến bằng súng đạn. Đất nước chúng ta phải chuyển dịch từ vị trí hạng ba lên vị trí hạng hai, rồi hạng hai lên hạng nhất; và sau cùng lên đến vị trí hàng đầu trong cộng đồng các quốc gia thế giới. Con đường tốt nhất để thực hiện điều này là đặt nền móng cho giáo dục cơ bản”. Tiếp tục đọc

Robot hóa có nên được miễn thuế?

ROBOT HÓA CÓ NÊN ĐƯỢC MIỄN THUẾ?

Robert J. Shiller

NEW HAVEN – Ý tưởng về một sắc thuế đánh lên robot đã được đề xuất vào tháng Năm vừa qua trong một dự thảo báo cáo sơ bộ gửi Nghị viện Châu Âu được soạn thảo bởi nghị sĩ Mady Delvaux thuộc Ủy ban các Vấn đề Pháp lý. Nhấn mạnh đến cách mà những robot có thể nới rộng sự bất bình đẳng, bản báo cáo đã đề xuất rằng nên chăng “cần phải yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin về mức độ và tỷ lệ đóng góp của các loại người máy và trí tuệ nhân tạo vào những kết quả kinh tế của một công ty nhằm mục đích đánh thuế và tính toán những khoản đóng góp an sinh xã hội.

Những phản ứng từ công chúng về đề xuất của Delvaux là vô cùng tiêu cực, với ngoại lệ đáng chú ý của Bill Gates, người tán thành nó. Nhưng chúng ta không nên bác bỏ ý tưởng này. Chỉ mới năm ngoái, chúng ta đã thấy sự gia tăng của những thiết bị như Google Home và Amazon Echo Dot (Alexa), nhằm thay thế những mặt nào đó của việc nội trợ. Cũng như thế, các dịch vụ taxi không người lái Delphi và nuTonomy ở Singapore đã được khởi động để thay thế những bác tài xế. Và Doordash, vốn sử dụng những bánh xe tự hành thu nhỏ của công ti Starship Technologies, đang dần thay thế các nhân viên giao hàng thức ăn. Tiếp tục đọc

Làm thế nào để làm cho thu nhập cơ bản phổ quát trở thành hiện thực

Stewart Lansley
Stewart Lansley
Howard Reed
Howard Reed

LÀM THẾ NÀO ĐỂ LÀM CHO THU NHẬP CƠ BẢN PHỔ QUÁT TRỞ THÀNH HIỆN THỰC

Liệu việc chi trả một thu nhập thường xuyên cho mọi công dân có hoạt động hiệu quả không? Liệu đó có là một bước khả thi tiến tới việc cải cách hệ thống phúc lợi hiện tại không? Dựa vào một báo cáo gần đây, Stewart Lansley Howard Reed giải thích cách thức để làm cho một chương trình như vậy hoạt động hiệu quả.

Hỗ trợ cho một thu nhập cơ bản phổ quát – chi trả một thu nhập thường xuyên và có đảm bảo cho các công dân của một quốc gia như là một việc đương nhiên theo luật – đang bắt đầu tăng tốc. Các cuộc thử nghiệm đang được hoạch định tại nhiều quốc gia, trong khi vùng Silicon Valley đang thử nghiệm chương trình Y Combinator tại California. Tại Liên hiệp Anh (UK), ý tưởng nhận được sự ủng hộ của Đảng Xanh và Đảng SNP, đang được Công đảng xem xét một cách nghiêm túc, và nhận được sự ủng hộ của Hội Nghệ thuật Hoàng gia (Royal Society of Arts) và Viện Adam Smith (Adam Smith Institute), một viện chính sách theo trường phái thị trường. Tiếp tục đọc

Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Mác và kinh tế thị trường (II)

SỨC LAO ĐỘNG PHẢI CHĂNG LÀ HÀNG HOÁ?

Trần Hải Hạc

Giữa học thuyết Mác về chủ nghĩa tư bản và học thuyết tự do chủ nghĩa về kinh tế thị trường, mối tương quan thường được quan niệm như là đối kháng. Đó là xét tương quan về mặt chính trị và hệ tư tưởng.

Về mặt lý luận kinh tế, giữa học thuyết tự do kinh tế và học thuyết Mác – chí ít theo cách đọc chính thống của nó –, không phải không có những điểm tương đồng. Trước tiên là quan điểm duy kinh tế của những phân tích trong đó vai trò đấu tranh xã hội không có tính quyết định và nhà nước có chỗ đứng ở bên lề. Đồng quan điểm này đặc biệt thể hiện trong lý luận xem tiền tệ và sức lao động (hoặc lao động) như là những hàng hoá.

Tiền tệ phải chăng là hàng hoá? Bài đầu tiên (Diễn Đàn số 36, tháng 12 1994) đã thử phân tích tính nước đôi của lý luận mác xít, và những hệ luận mang tính thời sự ở những nước – như Việt Nam – đang chuyển sang nền kinh tế thị trường. Bài thứ hai dưới đây sẽ xét câu hỏi và những vấn đề đặt ra đối với phạm trù sức lao động.

Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Câu trả lời dường như quá hiển nhiên: Đặc tính của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chính ở chỗ đã biến sức lao động thành hàng hoá, cho nên chế độ tư bản, theo Mác, đồng nghĩa với chế độ lao động làm thuê. Song, khi xây dựng lý luận về tiền công, bộ Tư bản đã không tránh khỏi một sự nhập nhằng, thiếu nhất quán, dẫn đến hai cách đọc Mác đối lập nhau. Tiếp tục đọc