Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Mác và kinh tế thị trường (II)

SỨC LAO ĐỘNG PHẢI CHĂNG LÀ HÀNG HOÁ?

Trần Hải Hạc

Giữa học thuyết Mác về chủ nghĩa tư bản và học thuyết tự do chủ nghĩa về kinh tế thị trường, mối tương quan thường được quan niệm như là đối kháng. Đó là xét tương quan về mặt chính trị và hệ tư tưởng.

Về mặt lý luận kinh tế, giữa học thuyết tự do kinh tế và học thuyết Mác – chí ít theo cách đọc chính thống của nó –, không phải không có những điểm tương đồng. Trước tiên là quan điểm duy kinh tế của những phân tích trong đó vai trò đấu tranh xã hội không có tính quyết định và nhà nước có chỗ đứng ở bên lề. Đồng quan điểm này đặc biệt thể hiện trong lý luận xem tiền tệ và sức lao động (hoặc lao động) như là những hàng hoá.

Tiền tệ phải chăng là hàng hoá? Bài đầu tiên (Diễn Đàn số 36, tháng 12 1994) đã thử phân tích tính nước đôi của lý luận mác xít, và những hệ luận mang tính thời sự ở những nước – như Việt Nam – đang chuyển sang nền kinh tế thị trường. Bài thứ hai dưới đây sẽ xét câu hỏi và những vấn đề đặt ra đối với phạm trù sức lao động.

Sức lao động phải chăng là hàng hóa?

Câu trả lời dường như quá hiển nhiên: Đặc tính của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chính ở chỗ đã biến sức lao động thành hàng hoá, cho nên chế độ tư bản, theo Mác, đồng nghĩa với chế độ lao động làm thuê. Song, khi xây dựng lý luận về tiền công, bộ Tư bản đã không tránh khỏi một sự nhập nhằng, thiếu nhất quán, dẫn đến hai cách đọc Mác đối lập nhau. Tiếp tục đọc

Khi kinh tế học có đạo đức

KHI KINH TẾ HỌC CÓ ĐẠO ĐỨC

Tưởng nhớ Kenneth Arrow

Debra Satz

Ảnh: Foundation for Economic Education [Quỹ Giáo dục Kinh tế]

Kenneth Arrow, một trong những nhà kinh tế học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã qua đời hồi tháng trước ở tuổi 95. Ông thuộc thế hệ những nhà kinh tế học có những ý tưởng được hình thành từ sự xáo trộn và hỗn loạn của cuộc Đại suy thoái và Thế Chiến II, một thế hệ bao gồm John Nash, Paul Samuelson, Harold Hotelling và Milton Friedman. Ngày nay, khi có quá nhiều phần của kinh tế học bị bó hẹp vì không xem xét đến tính đạo đức, thì các công trình của Arrow đã chứng minh rằng kinh tế học về cơ bản là một khoa học đạo đức. Đối với Ken, bất luận là xử lí sự biến đổi khí hậu, an ninh quốc tế, cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, bất bình đẳng hay thành kiến ​​chủng tộc, thì kinh tế học trước hết và trên hết là một phương tiện để giúp cải thiện phúc lợi của con người. Thật vậy, trọng tâm của ông về vấn đề phúc lợi đã khiến ông xem xét đến tầm quan trọng của sự tin tưởng và các quy tắc đạo đức, cũng như các quy định của chính phủ, đối với hành vi của thị trường. Con người kinh tế [homo economicus] không thể chỉ biết có bản thân mình không thôi. Tiếp tục đọc

Tiền tệ phải chăng là hàng hoá?

Mác và kinh tế thị trường (I)

TIỀN TỆ PHẢI CHĂNG LÀ HÀNG HOÁ?

Trần Hải Hạc

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, từ “chủ nghĩa tư bản” hình như cũng biến mất theo, nhường chỗ cho từ “kinh tế thị trường” để trở thành phạm trù đầu lưỡi của mọi người khi bàn luận về kinh tế. Tại Việt Nam, điều này rõ ràng hơn ở nơi nào hết.

Sự thay thế từ ngữ thường hàm ý một sự phân biệt: chủ nghĩa tư bản xem như là một phạm trù tiêu cực, còn kinh tế thị trường là một phạm trù, nếu không có tính tích cực, thì cũng trung tính. Với hàm ý đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra khái niệm “kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa” (tương đương với khái niệm “kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường” của Đảng cộng sản Trung Quốc).

Song việc thay đổi từ ngữ không thể không có hậu quả trong nội dung lý luận: Chủ nghĩa tư bản phải chăng đồng nghĩa với khái niệm kinh tế thị trường hiểu theo nghĩa một nền kinh tế trong đó thị trường điều tiết tất cả? Hay đằng sau sự thay thế từ ngữ còn là sự thay thế lý luận về chủ nghĩa tư bản của Các Mác bởi lý luận về kinh tế thị trường của chủ nghĩa tự do kinh tế?

Luận điểm của bài viết dưới đây là. Những hạn chế của lý luận mácxít – đặc biệt trong phân tích về tiền tệ và về sức lao động – có nhiều điểm tương đồng với những giới hạn của kinh tế học tự do chủ nghĩa cổ điển và tân cổ điển. Cho nên một sự nhận thức phê phán lý luận về chủ nghĩa tư bản của Mác đồng thời cũng là sự phê phán nhận thức về kinh tế thị trường của kinh tế học thống trị. Đó còn là điều kiện để lý luận của Mác tiếp tục khẳng định tính chất của nó là “phê phán khoa kinh tế chính trị” – tiểu tựa của bộ Tư bản và của hầu hết các tác phẩm kinh tế khác của Mác. Tiếp tục đọc

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại

SỰ TẠO TIỀN TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI

Michael McLeay, Amar Radia và Ryland Thomas thuộc Ban Giám đốc Phân tích Tiền tệ của Ngân hàng[1].

  • Bài viết này cho thấy đa số tiền trong nền kinh tế hiện đại được tạo ra thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại như thế nào.
  • Việc tạo tiền trong thực tế khác với một vài quan niệm sai lầm phổ biến- các ngân hàng không chỉ đơn thuần là như những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó, và nó cũng không “nhân” (“multiply up”) tiền ngân hàng trung ương lên để tạo ra các khoản vay mới và tiền gửi mới.
  • Lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế rốt cuộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong thời kỳ bình thường, điều này được thực hiện bằng cách thiết lập những mức lãi suất. Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động trực tiếp đến lượng tiền thông qua việc mua tài sản hay “nới lỏng định lượng” (“quantitative easing”).

Tiếp tục đọc

Liệu nền dân chủ có sống sót qua Dữ liệu lớn và Trí tuệ nhân tạo không?

LIỆU NỀN DÂN CHỦ CÓ SỐNG SÓT QUA DỮ LIỆU LỚN VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO KHÔNG?

Chúng ta đang ở giữa một cuộc biến động công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức mà xã hội được tổ chức. Chúng ta phải có quyết định đúng đắn ngay bây giờ

Dirk Helbing, Bruno S. Frey, Gerd Gigerenzer, Ernst Hafen, Michael Hagner, Yvonne Hofstetter, Jeroen van den Hoven, Roberto V. Zicari, Andrej Zwitter

Ảnh: Getty Images

Chú thích của biên tập viên: Bài viết này xuất hiện lần đầu trong Spektrum der Wissenschaft, một ấn phẩm khác của Scientific American, dưới tiêu đề Digitale Demokratie Statt Datendiktatur.

Khai sáng là sự thoát ly của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra. Vị thành niên là sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ một cách độc lập mà không cần đến sự chỉ đạo của người khác.

 – Immanuel Kant, “What is Enlightenment? [Khai sáng là gì?]” (1784) Tiếp tục đọc

Chuyển sang kinh tế thị trường và chuyên chế chính trị: đọc lại học thuyết Trọng nông

Đọc lại học thuyết Trọng nông

… bài viết dưới đây thử đề nghị một cách đọc mới, khả dĩ soi sáng một số đặc điểm tư tưởng của quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường tại những xã hội – như ở Trung Quốc hay Việt Nam hiện nay – vừa có chủ trương tự do kinh tế, vừa chuyên chế chính trị… Bài này đã được đăng lần đầu trong tập TỪ ĐÔNG SANG TÂY, nxb Đà Nẵng, 2005, mừng thọ giáo sư Lê Thành Khôi.

CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CHUYÊN CHẾ CHÍNH TRỊ: ĐỌC LẠI HỌC THUYẾT TRỌNG NÔNG

Trần Hải Hạc[*]

Từ ngữ “trọng nông” phiên dịch thuật ngữ tiếng Pháp ‘Physiocratie’, đúng nghĩa từ nguyên là “quyền lực của tự nhiên” (pouvoir de la nature), “chế độ cai trị của tự nhiên” (gouvernement de la nature). Lịch sử tư tưởng kinh tế thường ghi nhận nó như là một học thuyết Pháp thuộc thế kỷ thứ 18 và có “quỹ đạo sao băng” [Schumpeter 1954: I, 321]: trước năm 1750, không ai biết đến nó; giữa các năm 1760 và 1770, trở thành từ ngữ thời thượng của giới thượng lưu và triều đình vương quốc Pháp, không ai không nói đến nó; sau năm 1780, và ngoài các sử gia tư tưởng kinh tế, không còn ai nhắc đến nó nữa. Suốt thế kỷ thứ XIX – thời kỳ của kinh tế học cổ điển ngự trị – trường phái trọng nông hầu như rơi vào lãng quên. Duy chỉ có Karl Marx thừa nhận đóng góp của nó: Marx xác lập vị trí của François Quesnay – giáo chủ của học phái và tác giả năm 1758 của Biểu kinh tế – như là “người cha đẻ thực sự của kinh tế học hiện đại”, và xác định tầm quan trọng của Biểu kinh tế là “sáng kiến cực kỳ thiên tài, không thể chối cãi là thiên tài nhất cho đến nay trong chính trị kinh tế học” [Marx 1862-1863: I, 31; 399]. Tiếp tục đọc

Nữ kinh tế gia duy nhất được giải Nobel vinh danh cũng vạch trần kinh tế học chính thống

NỮ KINH TẾ GIA DUY NHẤT ĐƯỢC GIẢI NOBEL VINH DANH CŨNG VẠCH TRẦN KINH TẾ HỌC CHÍNH THỐNG

Sự thật về bi kịch của nguồn lực chung

David Bollier

“Mường tượng một đồng cỏ dành cho tất cả mọi người”.

Đối với ít nhất một thế hệ thì ý tưởng chính xác về nguồn lực chung này đã bị gạt sang bên lề và bị vứt bỏ như thể đó là lối quản lý nguồn tài nguyên sai lầm: cái gọi là bi kịch của tài nguyên chung. Trong một bài viết ngắn nhưng có tầm ảnh hưởng được công bố trên tạp chí Science vào năm 1968, nhà sinh thái học Garrett Hardin đã thổi vào câu chuyện này một luồng gió mới và câu khẩu hiệu dễ nhớ. Tiếp tục đọc