Tại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế

Economic HistoryTại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế

Cái đẹp của internet là cho phép bạn thỉnh thoảng lướt qua các bài viết như bài viết này mà bạn có thể bỏ lỡ (H/T Greg Mankiw). Như các bạn mong đợi, tôi đồng ý với Temin rằng lịch sử kinh tế đóng một vai trò cơ bản trong giáo dục kinh tế, và MIT là một ví dụ điển hình. Để lặp lại một điểm mà tôi đã viết trước đây trên blog, nhiều siêu sao từng tốt nghiệp từ trường này có một sự nhạy cảm lịch sử đã làm cho họ trở thành những nhà kinh tế giỏi hơn. Obstfeld và Rogoff nổi tiếng với công trình đột phá của họ về kinh tế học vĩ mô mở, nhưng cả hai đều đã viết nhiều cuốn sách quan trọng về lịch sử kinh tế (Obstfeld cùng với Taylor, và Rogoff cùng với Reinhart), và tôi không nghĩ đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng phong cách của Obstfeld-Rogoff trong kinh tế học vĩ mô mở có xu hướng dựa nhiều hơn vào thế giới thực so với một số tương đương trong kinh tế học đóng. Paul Krugman thường xuyên cho thấy một sự quan tâm và kiến ​​thức về lịch sử, mà ông ứng dụng một cách hiệu quả; thậm chí đừng để tôi bắt đầu nói về Ron Findlay, v.v. Tiếp tục đọc

Hướng tới một sự thay đổi hệ chuẩn trong kinh tế học?

Cyril Hédoin
Cyril Hédoin

Hướng tới một sự thay đổi hệ chuẩn trong kinh tế học?

Thư trả lời gửi đến James K. Galbraith

Cyril Hédoin, ngày 06 Tháng tư 2010

Sự hồi sinh của lý thuyết kinh tế xuất phát từ đâu? Từ vùng biên hay từ vùng trung tâm của lí thuyết này? Để trả lời tiểu luận của James K. Galbraith, Cyril Hédoin cho rằng kinh tế học tự thân đã mang trong lòng nó những cách tiếp cận mang tính cách tân cho phép hiểu được những hiện tượng như cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong bài báo của ông “Nhưng những nhà kinh tế đó, họ là ai?“, James K. Galbraith tiến hành làm rõ ai là những nhà kinh tế đã có đủ sự sáng suốt để báo trước cuộc khủng hoảng tài chính. Galbraith bảo vệ luận thuyết cho rằng các nhà kinh tế đó không ở nơi mà người ta mong đợi, có nghĩa là ở vùng trung tâm của kinh tế học. Ngược lại, người ta phải tìm họ ở vùng biên, hoặc thậm chí ở bên ngoài lĩnh vực kinh tế học hàn lâm.

Như ông đã giải thích rõ cho đọc giả, danh sách các nhà kinh tế mà ông đưa ra hoàn toàn chưa phải là đầy đủ. Dĩ nhiên nó được xác định một phần bởi sự nhạy cảm và sự hiểu biết của tác giả. Một cách lộn xộn, Galbraith viện dẫn những cái tên sau đây: Dean Baker, Hyman Minsky, Wynne Godley hay Gary Dimsky. Các tác giả trên có những nguồn gốc trí thức khác nhau, nhưng tất cả họ đều có một điểm chung, theo Galbraith, là có khả năng dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính, hoặc trong trường hợp của Minsky (mất năm 1996), đã cung cấp những công cụ lý thuyết để hiểu được các cơ chế của sự bất ổn tài chính. Các tác giả trên cũng có một điểm chung khác: họ không xuất phát từ vùng trung tâm của nghề nghiệp, điều mà một số người đôi khi còn gọi là “dòng chính thống” (“mainstream”) hay một cách vụng về hơn là “lý thuyết tân cổ điển“. Nền tảng trong lập luận của Galbraith là nhận định trên chỉ cho biết, hoặc làm hiển nhiên hơn, sự việc cho rằng kinh tế học từ lâu đã đi sai đường. Do đó, vấn đề quan trọng là nhân cơ hội cuộc khủng hoảng tài chính này mà trở lại đúng đường, thậm chí cho dù phải đoạn tuyệt hoàn toàn với khoa học chuẩn định. Như Galbraith đã viết ở phần cuối của bài báo ông: “Do đó, không cần thiết phải giới hạn các cuộc thảo luận trong phạm vi hẹp của một môn khoa học kinh tế truyền thống. Vấn đề cấp bách ở đây là mở rộng nhiều hơn nữa không gian học thuật và tầm nhìn của công chúng đối với những công trình thực sự hữu ích để đối phó với những vấn đề sâu sắc về kinh tế trong thời đại của chúng ta. […] Ý tưởng không phải là tranh luận bất tận về vấn đề kẻ tám lạng và người nửa cân, mà là vượt qua những cuộc tranh cãi về vỏ dưa và vỏ dừa nằm bên ngoài các cuộc tranh cãi ấy, nơi có những giải pháp nhất quyết nằm ở đâu đó, và đúng thực sự đang ở đó.” Tiếp tục đọc

Phê phán kinh tế học kinh viện

Business WeekPhê phán kinh tế học kinh viện(*)

“Một biểu trưng bi thảm … Những gì các nhà kinh tế bộc lộ rõ ràng nhất là sự tụt hậu trí tuệ to lớn của bộ môn họ”[1]. Chủ yếu, bài xã luận này của tuần san kinh tế được biết đến nhiều nhất (Business Week) – khi bình luận các công trình trình bày ở hội nghị năm 1981 của Hội kinh tế Mĩ – nói rằng “nhà vua cởi truồng”. Nhưng không ai trong số những người tham gia cuộc trình diễn long trọng và rất được mong muốn này của khoa học kinh tế của Hoa Kì có vẻ như không biết điều ấy, và những ai biết thì không dám nói.

John Stuart Mill (1806-1873)
John Stuart Mill (1806-1873)

Hai trăm năm trước, các nhà sáng lập kinh tế học hiện đại – Adam Smith, Ricardo, Malthus và John Stuart Mill – xây dựng một kiến trúc tri thức đồ sộ đặt cơ sở trên ý niệm về một nền kinh tế quốc gia được xem như một hệ thống tự điều tiết hợp thành bởi một số lớn những hoạt động khác nhau và nối kết với nhau và, vì thế, phụ thuộc lẫn nhau. Một quan niệm vững mạnh và phong phú đến độ đã thúc đẩy công trình sáng tạo của Charles Darwin về lí thuyết tiến hóa.

Vilfredo Pareto (1848-1923)
Vilfredo Pareto (1848-1923)

Ý tưởng trung tâm của điều được gọi là kinh tế học cổ điển được hai kĩ sư đặc biệt có năng lực toán học: Léon Walras và Vilfredo Pareto thể hiện một cách vô cùng tinh tế bằng một ngôn ngữ đại số súc tích và đặt tên là “lí thuyết cân bằng chung”. Ngày nay, dưới tên gọi kinh tế học “tân cổ điển”, lí thuyết này là cốt lõi của chương trình đại học trong đất nước này.

Khi mà chúng ta đã trải qua hết những sự kiện hằng ngày thì các nhà kinh tế lại có khả năng quy giản chúng thành yếu tố thông tin khó tiếp cận và có tính chuyên môn hơn dành cho các số liệu thống kê chính thức. Tuy nhiên các thống kê này – do các cơ quan hay doanh nghiệp thiết lập không vì mục đích khoa học – vẫn còn xa mới đạt đến mức cần thiết cho một sự hiểu biết cụ thể, chi tiết hơn về cấu trúc và hoạt động của một hệ thống kinh tế hiện đại. Tiếp tục đọc

Những tiêu chí của tính khoa học trong kinh tế học

Những tiêu chí của tính khoa học trong kinh tế học

Hubert Brochier[1]

Giả định là đã giải quyết xong vấn đề kinh tế học có phải là một khoa học không. Ví dụ, chúng tôi mời bạn tham khảo những nhận xét cuối cùng của G. G. Granger trong bài “Khoa học luận kinh tế” trong bộ Bách khoa kinh tế[2] này. Hay là ta chấp nhận rằng bản thân câu hỏi trên là thứ yếu. Dù sao thì trong công việc nghiên cứu của nhà kinh tế, vẫn phải có một số quyết định về phương pháp luận hay khoa học luận để có thể tiến triển trong quá trình nhận thức. Những quyết định này bị những câu trả lời cho câu hỏi sau chi phối: đâu là những công cụ cho phép xác định rằng một lí thuyết, một lối giải thích là đúng hay sai? Đó là vấn đề đánh giá (appraisal) hay là vấn đề những tiêu chí của tính khoa học.

Bằng cách này đương nhiên là ta gặp vấn đề tính khoa học hay không của những diễn ngôn kinh tế, vì chỉ có thể mượn những “tiêu chí” trong phương pháp luận khoa học, do chỉ có phương pháp này mới có, ít ra là trên nguyên tắc, những phương tiện để phân biệt giữa chân lí và sai lầm.

Mục tiêu này, bề ngoài đơn giản và đương nhiên, thật ra là đầy tham vọng. Nếu ta lướt nhìn trạng thái của kinh văn thì ta thấy nhiều dấu hiệu của một bộ môn không hoạt động như một khoa học. Trước hết bộ môn này có nhiều rạn nứt ý thức hệ: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa marxist, thể chế luận … , những rạn nứt đó có vẻ làm cho những người có cảm tình với những chủ nghĩa này miễn nhiễm đối với mọi ý muốn thảo luận.

Vả lại ngay cả cộng đồng khoa học những nhà kinh tế dường như cũng chia thành nhiều trường phái cạnh tranh nhau, không quyết định được kết cuộc của những cuộc tranh luận lớn: đó là trường hợp của cuộc tranh luận giữa học thuyết trọng tiền và học thuyết Keynes. Còn cuộc tranh luận giữa những người bảo vệ và chống lại lí thuyết kinh tế vi mô về doanh nghiệp tuy đã không còn gay gắt nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Có nhiều trường phái đối lập với nhau hoặc khác nhau: có một học thuyết Keynes chính thống (hay đúng hơn là – ND) phiên bản thủy động lực học của học thuyết này(*), một học thuyết Keynes về mất cân bằng, một kinh tế học tân cổ điển (hay cổ điển “mới”), một trường phái tân Áo, v.v … Tất nhiên trong khoa học luôn có những cuộc tranh luận, và sự thống nhất tư tưởng chỉ đạt được sau nhiều cuộc đối đầu lâu dài và chỉ trong một thời gian giới hạn. Nhưng dường như trong kinh tế học, các nhà nghiên cứu có xu hướng từ bỏ sự đối nghịch để tự giam mình trong những quan điểm của bản thân, bằng cách đi vào chi tiết tinh vi hay trình bày hình thức mà không thật sự quan tâm đến những phản bác có thể nêu lên đối với họ. Như thế đôi lúc người ta có thể đi đến một kết luận làm nản lòng và thật sự phản khoa học là trong kinh tế học có thể bảo vệ đồng thời những ý kiến trái ngược nhau, và những nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng có những phương tiện để quyết định ý kiến nào là đúng đắn nhất (ví dụ xem Klamer, 1988). Tuy nhiên không có bộ môn nào lại có thể không cần đến những tiêu chí phân biệt cái sai và cái đúng nếu không muốn trở thành không nhất quán. Do đó ta phải điểm qua những phương pháp khác nhau hoặc được các nhà kinh tế vận dụng hoặc được các nhà triết học hay những sử gia của các khoa học thiết kế nhằm liệt kê những tiêu chí rõ ràng hay ngầm ẩn về tính khoa học và xem xét sự tương thích của những tiêu chí này với những vấn đề đặc biệt của kinh tế học.  Tiếp tục đọc

Khoa học luận kinh tế

Khoa học luận kinh tế

Gilles Gaston GrangerTrong tất cả những bộ môn nhằm mô tả và giải thích những sự kiện trong đó con người trực tiếp tham gia, có lẽ Kinh tế học là ứng viên tốt nhất để được danh hiệu khoa học. Bộ môn này có một bộ máy mạnh để thu thập và xử lí thống kê những sự kiện cũng như một tính phong phú lí thuyết mà tinh thần và những công cụ luôn được đổi mới từ hai hay ba thế kỉ nay. Tuy nhiên nếu xét đến tính không chắc chắn của những dự báo bộ môn này cho phép có được và tính đa dạng của những giải thích được những môn đồ xuất sắc nhất của bộ môn đề xuất, đôi lúc một cách đồng thời, thì ta không khỏi hoài nghi, hay ít ra là dè dặt. Tuy vậy, nên chăng phải hiểu đúng nghĩa của nó nhận định khôi hài và chua cay của bà Joan Robinson (1962: 26): “Như thế, kinh tế học tiếp tục con đường của nó, vừa đi vừa cà thọt, một chân trong những giả thiết không được kiểm tra và chân kia trong những khẩu hiệu không thể kiểm tra được”? … Ở đây nhà triết học không có chủ ý quyết định như một luật gia về tính chính đáng của tham vọng bộ môn muốn trở thành một khoa học mà chỉ phác thảo một phân tích về những lí do để có được niềm tin và hi vọng ấy. Đây chỉ là việc nhận diện những mục tiêu của bộ môn kinh tế và những cách khác nhau mà bộ môn này tiếp cận đối tượng của nó. Không phải là triết gia muốn thế chỗ nhà kinh tế để bàn vào chi tiết những phương thức và chỉ dạy phương pháp cho nhà kinh tế. Hẳn là không thể tư duy triết học đúng cách về một khoa học mà không xem xét kĩ những cách tiếp cận thật sự của khoa học này; và sẽ là một việc phù phiếm khi ngẫm nghĩ về hình ảnh một khoa học lí tưởng và không có da có thịt. Nhưng nếu một tư duy khoa học luận phải nhắm vào một khoa học cụ thể, được xác định một cách lịch sử, thì tư duy này chỉ nhằm kiến giải ý nghĩa của khoa học ấy, làm rõ những khái niệm, vấn đề và có thể phát hiện những hướng bị che giấu. Quan tâm đến những công cụ và khám phá, suy nghĩ này tuy vậy không thể được lẫn lộn với một lịch sử hay một công nghệ, và càng không thể lẫn lộn với một tương lai học.

Tiếp tục đọc

Lịch sử phân tích kinh tế

Michel De VroeyLịch sử phân tích kinh tế

Để có thể hoàn thành công việc được giao cho chương này trong bộ Bách khoa kinh tế, chúng tôi đã theo một cách tiếp cận có chọn lọc và mang tính cá nhân. Trong số lớn những nhà kinh tế, chúng tôi chỉ giữ lại những khuôn mặt nổi bật, Smith, Ricardo và Marx cho các nhà cổ điển; Marshall, Walras, Hayek và Keynes cho các nhà kinh tế hiện đại. Không có một tác gia nào trước Smith được nghiên cứu. Tương tự như thế đối với những tác gia sau đó, như Malthus, Say, J. S. Mill, Cournot, Jevons, Wicksell và Sraffa, cũng như những phát triển hiện đại khác nhau, như lí thuyết trò chơi, kinh trắc học, lí thuyết thể chế.

Hai phần đầu của bài này có tính phương pháp luận. Phần thứ nhất bàn về đối tượng và những thách thức của lí thuyết kinh tế, phần thứ hai đề cập đến tính thống nhất của khoa học này. Phần thứ ba và là phần chính vạch ra tiến hoá của những lí thuyết kinh tế thông qua những đóng góp của các tác giả được lựa chọn. Phần này kết thúc bằng việc xem xét nhanh cuộc tranh luận đương đại về đóng góp của Keynes và việc Lucas và những nhà “cổ điển mới” xét lại đóng góp này. Toàn bài sẽ nhấn mạnh đến những ý đồ lí thuyết của các tác giả hơn là đến nội dung của các lí thuyết và ưu tiên sẽ được dành cho khía cạnh so sánh.

1. Đối tượng và những được thua của lí thuyết kinh tế

1.1 Đối tượng

Cứ chấp nhận rằng mục đích của lí thuyết kinh tế là tìm hiểu cơ chế vận hành “tự phát” của một nền kinh tế thị trường (hay phi tập trung) để rút ra những bài học về tính thích hợp của một sự can thiệp của Nhà nước trong cơ chế này. Một đề tựa như vậy tất nhiên là quá tổng quát và cần phải chia nhỏ ra. Chúng tôi đặt khả năng đứng vững của nền kinh tế phi tập trung hay việc phối hợp những quyết định trong nền kinh tế này ở trung tâm của vấn đề: làm thế nào quan niệm được là một xã hội, trong đó tất cả các quyết định được lấy một cách độc lập với nhau, lại có thể tồn tại mãi? Bằng cách nào khi không có kế hoạch những quyết định độc lập có thể tương hợp với nhau? Việc xác lập những luận điểm này phải thông qua những bước trung gian, đặc biệt là việc thay thế khả năng đứng vững của hệ thống bằng khái niệm cân bằng như một đặc điểm của một sự phối hợp tối ưu. Đến lượt nó khả năng cân bằng được chia thành hai câu hỏi nhỏ, một câu hỏi về khả năng logic của cân bằng và việc đặc trưng trạng thái này, và một câu hỏi về cơ chế xã hội nhờ đó cân bằng được thực hiện, một cách thật sự hoặc chỉ là có xu hướng thực hiện. Nhiều câu hỏi khác đến ghép thêm vào cái lõi trung tâm này. Một số liên quan đến toàn bộ nền kinh tế và nhằm vào tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường, những triển vọng phát triển hoặc đình trệ, những biến động mang tính tình thế, vai trò của chế độ làm công ăn lương và cuối cùng là sự phân phối của thu nhập, sự tồn tại và nguyên nhân của những bất bình đẳng, nghèo khó và bóc lột. Một số câu hỏi khác liên quan đến những tác nhân của một hệ thống như thế. Ở đây là việc đề ra những tiêu chí trên đó các tác nhân phải dựa vào, trong những bối cảnh khác nhau, để hành động một cách tối ưu. Cả hai khiá cạnh này không hoàn toàn tách rời nhau vì, từ thời Adam Smith, một trong những trực giác chính của kinh tế chính trị học là việc điều tiết của hệ thống phải được hiểu như là kết quả bất ngờ của những hành vi tối ưu hoá.

Tiếp tục đọc