Thời chạng vạng của các ‘cú hích’

THỜI CHẠNG VẠNG CỦA CÁC ‘CÚ HÍCH’

Mục tiêu nhằm giữ kinh tế học hành vi ở lại trong chính sách của Mỹ sau nhiệm kỳ tổng thống Obama.

DAVID V. Johnson

Câu đầu tiên của quyển sách mới nhất của Cass Sunstein, The Ethics of Influence (tạm dịch: Đạo đức của sự Ảnh hưởng), ghi rằng: “Chúng ta đang sống trong thời đại của tâm lí học và kinh tế học hành vi — các ngành khoa học hành vi”. Đối với ông Sunstein, một giáo sư luật Harvard và cựu quan chức của chính quyền Obama, đây là một câu nói quan trọng chẳng kém câu ‘chúng ta đang sống trong thời đại của thuốc kháng sinh, động cơ hơi nước, hoặc mạng internet’. Nhưng chỉ nói rằng ‘các ‘cú hích’ (nudges) luôn có mặt ở đây’ thì không làm cho nó trở nên như thế. Thực tế, nếu tương lai của chúng không bị nghi ngờ, thì tại sao lại cần ra thêm một quyển sách cùng chủ đề nữa — ra ngay sau món quà trong ‘Ngày của Cha’ quyển sách về Chiến tranh các Vì sao (Star Wars) của ông — để nói lên rằng chúng phải có mặt ở đây? Cũng giống như ngài tổng thống [Obama] mà ông phục vụ, Sunstein hiện đang tập trung vào việc củng cố di sản của mình. Tiếp tục đọc

Sự khác biệt giữa Kinh tế học hành vi và Kinh tế học truyền thống

KINH TẾ HỌC HÀNH VI

Richard H. Thaler Sendhil Mullainathan

behavioral-economicsSự khác biệt giữa Kinh tế học hành vi và Kinh tế học truyền thống[1]

Toàn bộ kinh tế học đều liên quan đến hành vi con người. Vậy, kinh tế học hành vi là gì, và nó khác với phần còn lại của kinh tế học như thế nào?

Kinh tế học truyền thống quan niệm một thế giới được những sinh vật tối đa hóa một cách có tính toán, phi-cảm tính được gọi là “Con người kinh tế” (“Homo economicus”) ngự trị. Bộ khung kinh tế học chuẩn làm ngơ hoặc bài trừ gần như tất cả hành vi được các nhà tâm lý học xã hội và nhận thức nghiên cứu. Nhánh kinh tế học “phi hành vi” này có nhiều căn cứ ủng hộ: một số tuyên bố rằng mô hình là “đúng”; trong khi phần đông số người khác chỉ tranh luận đơn giản rằng mô hình chuẩn dễ mô hình hóa hơn và phù hợp thực tiễn hơn. Kinh tế học hành vi nảy sinh từ việc nhận thức rằng cả hai quan điểm trên đều không chính xác.

Mô hình kinh tế học chuẩn về hành vi con người bao gồm ba khía cạnh phi thực tế: tính duy lí không hạn chế, sức mạnh ý chí không hạn chế, sự vị kỉ không hạn chế – tất cả khía cạnh này đều được kinh tế học hành vi điều chỉnh. Tiếp tục đọc

Phải chăng thời của lý thuyết đã qua?

Noah Smith

PHẢI CHĂNG THỜI CỦA LÝ THUYẾT ĐÃ QUA?

Noah Smith

Theo quan sát của tôi, kinh tế học đã và đang có một cuộc cách mạng lớn trong suốt trên dưới 35 năm qua.

Nhưng lý thuyết kinh tế học thống trị không hề thay đổi. Lý thuyết hẳn là đã thay đổi, chắc chắn rồi, nhưng bằng sự tiến triển hơn là bằng cách mạng – những loại như lý thuyết trò chơi và lý thuyết hành vi đã dần dần được pha trộn vào hệ chuẩn “tân cổ điển” siêu duy lý lâu đời.

Không phải như vậy, một cuộc cách mạng lớn đã và đang diễn ra ở chính vai trò của lý thuyết. Tìm đọc lại các nghiên cứu cũ ở những năm 1970 (tôi không dẫn ra bất cứ nghiên cứu cụ thể nào ở đây, vì nguyên tắc của tôi là không đơn cử tác giả nào cụ thể), bạn sẽ ngạc nhiên vì chúng không hề gắn với thực tiễn. Nhiều nghiên cứu trong số đó đã tốn rất nhiều công sức để xác định rằng không gian tìm thấy được giả định là không gian Borel, nhưng lại không thảo luận phương cách kiểm định mô hình xem có tương thích với dữ liệu thực tiễn hay không. Đó chính là “phương pháp suy diễn” nổi tiếng mà kinh tế học lấy làm tự mãn nhất. Thực ra, các nhà nghiên cứu chỉ cần xuất hiện, trình bày các giả định (nghĩa là phun ra thứ ngôn ngữ ngoài hành tinh), giải bài toán hệ quả để tìm ra các phương trình mượt mắt, và thế là xong việc. Tiếp tục đọc

Kinh tế học Hành vi có làm lung lay Nhà nước Phúc lợi không?

James Kwak
James Kwak

KINH TẾ HỌC HÀNH VI CÓ LÀM LUNG LAY NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI KHÔNG?

James Kwak

Đó là tiêu đề một bài viết của Mike Konczal, trong đó tác giả trả lời “không” cho câu hỏi trên. Karl Smith đưa ra câu hỏi này dựa trên một tiểu luận của Bryan Caplan và Scott Beaulier. Tiểu luận này chỉ rõ rằng những chính sách phúc lợi mở rộng sự lựa chọn sẵn có cho mọi người; điều này hoàn toàn phù hợp với kinh tế học truyền thống nhưng khi ta nghĩ theo hướng con người càng có khuynh hướng đưa ra những lựa chọn tồi tệ (“kinh tế học hành vi”), thì những chương trình phúc lợi càng khiến người dân gia tăng nguy cơ đưa ra những quyết định tồi tệ và gây bất lợi cho chính mình. Đây là một vấn đề đặc biệt, như Caplan và Beaulier từng tuyên bố: “có những lý do thực nghiệm để nghĩ rằng kinh tế học hành vi mô tả người nghèo tốt hơn là mô tả các nhóm dân cư còn lại” (tr.4). Nói cách khác, nếu cho rằng người nghèo sẽ phi lý hơn thì việc họ có thêm lựa chọn sẽ khiến chính họ bị tổn thương nhiều hơn những người khác.

Ta hãy bắt đầu với khẳng định trên. Làm sao có thể nói rằng “[một nhánh nghiên cứu hàn lâm lại có thể] mô tả [nhóm người nghèo] tốt hơn là mô tả những nhóm còn lại”? Với tôi, dường như ở đây có một lỗi sai về mặt phạm trù. Kinh tế học hành vi mô tả loài người, và thành phần tham gia chủ yếu trong hầu hết các thí nghiệm là những sinh viên đang theo học ở các trường đại học danh tiếng. Nếu những kết quả tìm thấy trong nghiên cứu bị lệch theo một cách nào đó thì độ lệch nằm ở đây. Tiếp tục đọc

Kinh tế học Hành vi không hiểu được Hạnh phúc

moneyKinh tế học Hành vi không hiểu được Hạnh phúc

Có nhiều thứ hơn, có ít lựa chọn hơn hay đang đánh lừa não chúng ta?

Terry Burnham

Điều gì sẽ làm bạn hạnh phúc hơn trong năm 2016?

Nếu có thể thay đổi một khía cạnh trong cuộc sống của mình trong năm 2016 thì điều gì sẽ làm bạn hạnh phúc nhất? Hãy tưởng tượng vào ngày 31/12/2016 bạn nhìn lại một năm 2016 đầy thỏa mãn. Điều đó sẽ là gì?

Kinh tế học chuẩn có một câu trả lời. Giai thoại mà Giáo sư Amartya Sen, một người từng đoạt giải Nobel Kinh tế, kể lại cho tôi sau đây sẽ minh họa cho điều đó. Một ngày nọ khi đi ngang qua Quảng trường Harvard, Giáo sư Sen hỏi tôi rằng, “Anh sẽ làm gì khi nhìn thấy một người đang cố gắng dùng một cây kéo cùn để tự cắt ngón tay của mình?”.

Phản ứng của tôi: ngăn ảnh tự cắt ngón tay mình, gọi cảnh sát giúp đỡ, v.v.. Tiếp tục đọc

Khi cú hích đi quá xa và quá mạnh

misbehaving-the-making-of-behavioral-economicsKHI CÚ HÍCH ĐI QUÁ XA VÀ QUÁ MẠNH

Chủ nghĩa gia trưởng và cạm bẫy của kinh tế học hành vi

Phillip L. Swagel

Ở thủ đô Washington, luật sư có thể rất uy quyền, thế nhưng chính những nhà kinh tế học mới là người thúc đẩy quá trình hoạch định chính sách. Vào tháng 7 năm 2009, Douglas Elmendorf, nhà kinh tế học đứng đầu Ủy ban Ngân sách Quốc hội [Hoa Kỳ] đã suýt nữa chặn đứng Đạo luật bảo vệ bệnh nhân và chăm sóc y tế giá phải chăng [Affordable Care Act] (tên gọi khác là Obamacare) khi ông công bố rằng, như soạn thảo, dự luật này sẽ không “giảm đáng kể khoản chi cho y tế liên bang” — trái ngược hẳn với những lời khẳng định ban đầu của những kẻ ủng hộ đạo luật này vốn phải vội vã thay đổi dự án luật. Các nhà kinh tế học cũng chi phối giới học thuật hàn lâm nhiều đến nỗi những nhà khoa học xã hội khác gọi kinh tế học là “bộ môn ngạo mạn” (the imperial discipline); [và] chỉ trích xu hướng vượt quá giới hạn cho phép của nó.

Đúng như lời chỉ trích: nhiều nhà kinh tế học tin rằng họ có thể giải thích các hiện tượng chính trị và xã hội tốt hơn các nhà chính trị học hay xã hội học. [Thâm chí] lòng tự tin nơi họ phản ánh niềm tin rằng kinh tế học chặt chẽ hơn về mặt toán học và có căn cứ về mặt lí thuyết hơn các ngành khoa học xã hội khác. Theo những nhà kinh tế học chuyên nghiệp, kinh tế học không chỉ đưa ra các phân tích chi tiết về sự vận hành của xã hội (chẳng hạn như xác định ai là người bị ảnh hưởng bởi một loại thuế cụ thể) mà còn đề ra các khuyến nghị về chính sách mang tính quy phạm (chẳng hạn như xác định mức thuế tối ưu). Tiếp tục đọc

Tại sao Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học hành vi sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có Darwin

brainTại sao Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học hành vi sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có Darwin

Terry Burnham

Kinh tế học đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng thầm lặng, rơi vào sự chia rẽ từ bốn mươi năm trước [những năm 1970] và hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Trong nghiên cứu “Hướng đến sự kết hợp theo thuyết Darwin mới của kinh tế học tân cổ điển và kinh tế học hành vi”, tôi đã tranh luận về việc những môn khoa học tự nhiên đã đưa ra được một lộ trình để tái thống nhất kinh tế học theo hướng tốt nhất.

Kinh tế học được chia thành trường phái tân cổ điển (the neoclassical school), vốn cho rằng con người là những sinh vật tối đa hóa một cách duy lí, và trường phái hành vi (the behavioral school) vốn chỉ ra rằng con người – theo cách nói của Richard Thaler – “ngớ ngẩn và tử tế” hơn nhiều so với những giả định của các nhà kinh tế học tân cổ điển. Tiếp tục đọc