Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss

DẪN NHẬP VÀO SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU CỦA MARCEL MAUSS

Claude Lévi-Strauss

(Nguyễn Tùng dịch và chú giải)

Marcel Mauss (1872-1950)

PTKT: “Introduction à l’œuvre de Marcel Mauss” [Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss][1] là một bài viết quan trọng của Claude Lévi-Strauss, trong đó ông vừa giới thiệu những đóng góp to lớn của Marcel Mauss cho môn nhân học, vừa trình bày nhiều ý kiến mới mẻ của chính ông về nền tảng lý thuyết và phương pháp luận của môn. Bản dịch này của Nguyễn Tùng đã được đăng trong cuốn “Luận về biếu tặng” cũng do ông dịch và do NXB Tri thức phát hành năm 2011. Do đề nghị của chúng tôi, NT đã đọc kỹ lại bản dịch, sửa nhiều lỗi, thêm một số chú thích và nhất là dịch thêm vài đoạn ngắn mà trước đây ông đã bỏ qua vì thấy không cần thiết, để cho bản dịch được đầy đủ.

Ít có những giảng dạy nào vừa bí hiểm và vừa ít ỏi mà lại có một ảnh hưởng sâu sắc như của Marcel Mauss. Tư tưởng của ông mà chính sự súc tích làm cho trở thành khó hiểu, nhưng lại được nhiều tia chớp xuyên qua, các lối tiếp cận vòng vo của ông dường như làm lạc đường đúng ngay vào lúc chúng chỉ ra lộ trình ít chờ đợi nhất nhưng lại dẫn đến cốt lõi của các vấn đề, chỉ những ai đã quen biết và đã nghe ông nói mới đánh giá trọn vẹn sức sáng tạo dồi dào của chúng và mới có thể tổng kết được món nợ của họ đối với ông. Chúng tôi không bàn nhiều ở đây về vai trò của ông trong tư tưởng dân tộc học và xã hội học Pháp. Nó đã được xét đến nơi khác[2] Chỉ cần nhắc lại rằng ảnh hưởng của Mauss không phải chỉ giới hạn vào các nhà dân tộc chí mà không người nào có thể nói rằng mình thoát khỏi ảnh hưởng đó, mà còn tác động đến các nhà ngữ học, tâm lý học, sử học về tôn giáo và các nhà Đông phương học, đến mức trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cả một nhóm nhà nghiên cứu Pháp nổi tiếng, vì lẽ này hay lẽ khác, thọ ân ông đã định hướng cho họ. Đối những người khác, sự nghiệp trước tác của ông là quá tản mát và thường rất khó tiếp cận. Do tình cờ được gặp hay được đọc ông, nhiều người còn giữ được những âm vang lâu bền: ta nhận ra vài âm vang như thế nơi Radcliffe-Brown, Malinowski, Evans-Pritchard, Firth, Herkovits, Lloyd Warner, Redfield, Kluckhohn, Elkin, Held và nhiều người khác. Nói chung, họ đã chịu ảnh hưởng tác phẩm và tư tưởng của Mauss thông qua các đồng nghiệp và môn đệ tiếp xúc đều đặn hay thỉnh thoảng với ông hơn là trực tiếp nghe ông nói hay đọc các bài viết của ông. Chính tình trạng mâu thuẫn này mà một sưu tập các báo cáo khoa học và các bài giảng hy vọng sẽ khắc phục được, dù chúng không giới thiệu đầy đủ tư tưởng của Mauss; và nên hy vọng rằng sưu tập này mở đầu cho một loạt các cuốn sách trong đó toàn bộ sự nghiệp của Mauss (đã xuất bản hay chưa được in, do ông viết một mình hay viết chung với người khác) rốt cuộc sẽ được nắm bắt trong tổng thể của nó.

Nhiều lý do thực tiễn đã chủ trì sự chọn lựa các nghiên cứu tập hợp trong cuốn sách này. Tuy nhiên, sự tuyển chọn ngẫu nhiên này đã cho phép rút ra vài khía cạnh của một tư tưởng mà nó thành công, dù còn khiếm khuyết, trong việc minh hoạ cho sự phong phú và đa dạng. Tiếp tục đọc

Trí thức và không gian công cộng trong xã hội hiện đại

TRÍ THỨC VÀ KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Trần Hữu Quang

Mục tiêu của bài này là bàn luận về vai trò của trí thức trong không gian công cộng xét trong bối cảnh xã hội hiện đại. Nội dung bài viết chủ yếu dựa trên những tư tưởng và luận điểm của một số tác giả khoa học xã hội trên thế giới mà chúng tôi cho là quan trọng và mang tính gợi mở cho tiến trình suy tư về những vấn đề của xã hội Việt Nam đương đại. Bài này bao gồm ba phần: trước hết là một vài đặc trưng của người trí thức; kế đến, những đặc trưng của không gian công cộng nói chung và của báo chí nói riêng; và cuối cùng, sứ mệnh của người trí thức trong xã hội hiện đại.

Một vài đặc trưng của người trí thức

Trí thức là một từ khá thông dụng trong đời sống xã hội, nhưng thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và dưới những góc độ khác nhau, ngay cả nơi giới nghiên cứu khoa học xã hội, đến mức mà John Peter Nettl (1970, tr. 59) từng nêu câu hỏi như sau: “Trí thức là một định chế, một tập thể, một vai trò, một loại người, hay là gì?” Tiếp tục đọc

Tìm hiểu Claude Lévi-Strauss

Claude Lévi-Strauss (1908-2009)
Claude Lévi-Strauss (1908-2009)

TÌM HIỂU CLAUDE LÉVI-STRAUSS

                                                                Nguyễn Tùng

PTKT: Chúng tôi cho đăng sau đây bài “Lời giới thiệu” của Nguyễn Tùng cho cuốn “Định chế tôtem[1] hiện nay”[2] của Claude Lévi-Strauss (Nguyễn Tùng dịch, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2017) với sự đồng ý của tác giả bài viết sau khi đã sửa đổi nhiều chi tiết.

dinh-che-totem-hien-nayClaude Lévi-Strauss là một nhà nhân học Pháp có ảnh hưởng lớn lên các ngành khoa học xã hội và nhân văn thế giới trong nửa sau của thế kỷ 20 với phương pháp phân tích cấu trúc mà ông đã chủ yếu dựa vào âm vị học cấu trúc (phonologie structurale) để lập ra rồi áp dụng vào nghiên cứu nhân học. Do sự nghiệp khoa học đồ sộ của ông (với hơn hai mươi cuốn sách và hơn hai trăm bài viết!), do sự đa dạng của các chủ đề nghiên cứu, do các giả thuyết và các phương pháp vô cùng mới lạ mà ông đề xuất, từ cuối những năm 1940, Lévi-Strauss đã không ngừng làm dấy lên nhiều cuộc tranh luận và nhiều phê phán ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Pháp và Mỹ. Các công trình của ông đã được mổ xẻ, phân tích trong vô vàn cuốn sách và bài viết của nhiều nhà nhân học, xã hội học, triết học, ngữ học, sử học… nghiêm túc trên thế giới. Tiếp tục đọc

Tương lai của sử học kinh tế phải là liên ngành

Social Business MeetingTƯƠNG LAI CỦA SỬ HỌC KINH TẾ PHẢI LÀ LIÊN NGÀNH

Naomi Lamoreaux

Sử học kinh tế trong tương lai vẫn sẽ tiến triển theo hướng của sử học kinh tế trong quá khứ, nhưng nó cần phải vượt qua cái quá khứ đó. Chẳng hạn như, nó cần vượt qua cái hạn chế của kết cấu liên ngành ban đầu trong lĩnh vực này và để chuyển thành một phân ngành trong kinh tế học. Ngày nay, hầu hết những nhà kinh tế học và nhà sử học đều chấp nhận một mẫu rập khuôn rằng kinh tế học thường hướng tới sự khái quát hóa còn sử học thì hướng đến sự hiểu biết về hiện tượng đặc thù trong quá khứ. Tuy mẫu rập khuôn này có sự đúng đắn ở một chừng mực nào đó, nhưng tôi sẽ biện giải để thấy rằng các nhà sử học kinh tế cần phải đẩy công việc nghiên cứu của họ lên đâu đó ở khoảng giữa của những thái cực trên nếu họ thật sự muốn nâng cao nhận thức. Trên thực tế, hầu hết nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà sử học kinh tế được đào tạo với tư cách các nhà kinh tế học, không đưa ra được những sự khái quát hóa mang tính phổ quát trong khi đáng lý ra họ phải làm được như thế, chứ không phải để hiểu tính chất về đặc thù – bối cảnh của nó, như vậy là sai đường. Đồng thời, nghiên cứu lịch sử dễ có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa hoài cổ khi các nhà nghiên cứu cứ chất đống thông tin về những chủ đề đặc thù của họ mà không hề băn khoăn về vấn đề là làm thế nào mà các tác phẩm của họ có thể cung cấp cứ liệu cho những ai muốn nghiên cứu về chủ đề đó ở thời gian và những địa điểm khác, bao gồm cả hiện tại. Vì đây là một chủ điểm của nghiên cứu hiện nay, nên sự thảo luận chủ yếu trong cả hai môn học cần đẩy các nhà nghiên cứu tiến đến khoảng giữa của thang độ đó. Các nhà kinh tế học vẫn buộc phải thừa nhận những hạn chế trong việc khái quát hóa, và các nhà sử học vẫn đối mặt không ngớt với những câu hỏi “sao lại thế?”. Vì vậy, tôi cho rằng khả năng để các nhà sử học kinh tế hoạt động hiệu quả ở khoảng trung điểm này từ lâu đã bị kìm hãm bởi sự thiếu sự đối thoại liên ngành.[1] Tiếp tục đọc

Xã hội học theo hướng hiện tượng học: Từ Alfred Schütz đến Peter Berger và Thomas Luckmann

Bài đã đăng Tạp chí Xã hội học, số 4 (132), 2015, tr. 140-152.

hinh-dau-baiXÃ HỘI HỌC THEO HƯỚNG HIỆN TƯỢNG HỌC: TỪ ALFRED SCHÜTZ ĐẾN PETER BERGER VÀ THOMAS LUCKMANN

TRẦN HỮU QUANG*

Tóm tắt: Hiện tượng học là môn triết học nghiên cứu về các bản chất, nhưng nó đặt các bản chất vào trở lại trong sự hiện hữu. Đối với khoa học xã hội, A. Schütz đã công nối kết lối tiếp cận hiện tượng học của E. Husserl với lối tiếp cận xã hội học thông hiểu của Max Weber, ông cho rằng các ngành khoa học xã hội cần coi lối tiếp cận hiện tượng học như một tiền đề nền tảng cho các công cuộc nghiên cứu của mình. Công trình xã hội học nổi tiếng của P. Berger và T. Luckmann, cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại, là một nỗ lực đi theo hướng này.

su-kien-tao-xa-hoi-ve-thuc-taiHiện tượng học là một trào lưu triết học ra đời vào đầu thế kỷ 20 với Edmund Husserl. Chống lại quan điểm thực chứng, hiện tượng học là một dự án khoa học giúp nhà nghiên cứu mô tả được một cách căn bản những hiện tượng vốn tự trình hiện ra trước ý thức của con người, và mục tiêu của nó là đi đến chỗ hiểu được bản chất của các hiện tượng – “bản chất” ở đây không phải là những phẩm chất bí ẩn nằm trong các “hiện tượng”, mà là hình thái ý thể (ideal form, tức là ý niệm nằm trong đầu con người) về cái đang hiện diện trong đời sống hiện thực (Macey, 2001: 298; Akoun, Ansart, 1999: 397). Đây là một phương pháp nhằm khảo cứu một cách có hệ thống về ý thức. Theo Husserl, kinh nghiệm của con người chúng ta về thế giới được cấu tạo trong ý thứcbởi ý thức. Để truy nguyên tiến trình cấu tạo này, chúng ta phải gác lại tất cả những gì chúng ta biết về thế giới, và đặt ra câu hỏi là kiến thức nảy sinh như thế nào, hay bằng những tiến trình nào (Scott, Marshall, 2009: 562).

Trong bài này, vì có liên quan tới triết học hiện tượng học nên trước hết chúng tôi sẽ trình bầy khái lược về tư tưởng hiện tượng học và phương pháp qui giản hiện tượng học của Husserl, sau đó là quan niệm của Alfred Schütz về việc áp dụng phương pháp hiện tượng học vào các ngành khoa học xã hội, đặc biệt là ngành xã hội học, và cuối cùng là lối tiếp cận hiện tượng học của công trình nổi tiếng của Peter Berger và Thomas Luckmann – cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại (1966). Tiếp tục đọc

Sự phát triển của Nghiên cứu Đông Nam Á ở Hàn Quốc

southeast-asian-studies-in-korea

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á Ở HÀN QUỐC[1]

Park Seung WooLee Sang Kook[2]

Bùi Thế Cường (Chuyển ngữ)[3]

Quan tâm học thuật về Đông Nam Á xuất hiện ở Hàn Quốc khoảng đầu thập niên 1960, khi hình thành một số chương trình dạy ngoại ngữ trong đại học. Cũng trong khoảng thời gian này, Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với một số nước Đông Nam Á. Tuy nhiên thập niên 1960 và 1970 có rất ít công trình nghiên cứu.

Thế hệ nghiên cứu Đông Nam Á đầu tiên chỉ xuất hiện trong thập niên 1980, liên quan đến chính sách của Chính phủ về tự do hóa và mở cửa nền kinh tế. Cũng trong thời gian này, nhiều người Hàn Quốc bắt đầu quan tâm đến các nước khác, đặc biệt những nước ít được biết đến, trong đó có các nước Đông Nam Á. Đầu thập niên 1990, Hàn Quốc mở cửa mạnh mẽ với trào lưu “toàn cầu hóa” và “khu vực hóa”. Tiếp tục đọc

Lời giới thiệu “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản” của Max Weber

Bài “Lời giới thiệu” sau đây đã được in trong quyển Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản của Max Weber (Hà Nội, Nxb Tri thức, 2008), trang 11-46 và được đưa lên đây với sự đồng ý của các tác giả.

Lời giới thiệu

Trần Hữu Quang

Bùi Văn Nam Sơn

        Max Weber (tên đầy đủ là Maximilian Carl Emil Weber) (1864-1920), nhà xã hội học người Đức, là một trong số ít tác giả có tầm ảnh hưởng lớn lao trong ngành xã hội học, và được xem là một trong những ông tổ của ngành khoa học xã hội này, bên cạnh những tác giả tên tuổi như Karl Marx, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Georg Simmel… Một số luận điểm và công trình nghiên cứu của ông đã và vẫn còn tiếp tục là đề tài gây tranh luận trong giới học thuật, kể cả về phía những người ngưỡng mộ lẫn về phía những kẻ phê phán. Kể từ khi có bản dịch đầu tiên sang tiếng Nga cho tới những bản dịch sang tiếng Nhật sau này, các công trình của ông đã không ngừng gây ảnh hưởng lớn lao tới các bước phát triển của ngành xã hội học ở hầu như tất cả các nước trên thế giới.

        Nhưng Weber không chỉ là một nhà xã hội học, ông còn được biết đến như là một nhà triết học, nhà luật học, nhà kinh tế học và nhà sử học với những kiến thức và lý giải uyên thâm. Khối lượng công trình đồ sộ của Weber có thể được xếp làm bốn loại chính sau đây: (a) các công trình phương pháp luận trong khoa học xã hội và triết học, (b) các công trình sử học, (c) các công trình xã hội học về tôn giáo, và (d) công trình quan trọng nhất của Weber là quyển Wirtschaft und Gesellschaft (Kinh tế và xã hội) (1922).[1] Vốn được coi là một trong những nhà sáng lập của bộ môn xã hội học, Weber đã để lại những dấu ấn đặc trưng về mặt tư duy phương pháp luận xã hội học. Cũng giống như Georg Simmel (1858-1918), một nhà triết học và xã hội học Đức và cũng là bạn của ông, Max Weber còn được coi là một nhà tư tưởng về tính hiện đại (Modernität) – tính hiện đại xét như là hệ quả của quá trình lý tính hóa (Rationalisierung) toàn bộ đời sống xã hội trong quá trình chuyển từ các xã hội cổ truyền sang các xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại ở châu Âu. Tiếp tục đọc