Laffont Jean-Jacques, Tirole Jean

A Theory of Incentives in Procurement and RegulationLaffont Jean-Jacques, Tirole Jean

A Theory of Incentives in Procurement and Regulation

Cambridge (Mass.), The MIT Press, 1993

Một lí thuyết động viên cho các chính sách mua sắm công cộng và qui định hóa là đỉnh điểm của mười năm nghiên cứu về một cách tiếp cận mới trong kinh tế học về sự quy định hóa và những mua sắm công cộng. Năm 1988, Jean Tirole công bố một tổng hợp tuyệt vời những tiến bộ, đạt được nhờ việc vận dụng lí thuyết trò chơi, trong tổ chức công nghiệp (Tirole, 1988). Kinh tế học về sự quy định hóa và những mua sắm công cộng, theo một nghĩa nào đó, là sự nối dài của tổ chức công nghiệp trong kinh tế học công cộng. Chuyên ngành này nghiên cứu sự can thiệp của các cơ quan công quyền vào sự tổ chức công nghiệp của nền kinh tế. Cũng như tổ chức công nghiệp đã được lí thuyết trò chơi biến đổi một cách sâu sắc, kinh tế học về sự quy định hóa và những mua sắm công cộng được lí thuyết hợp đồng, “đứa con tinh thần” của lí thuyết trò chơi biến đổi.

Trong lí thuyết hợp đồng, chủ đề trung tâm là thông tin không đối xứng giữa người ủy quyền (principal) và người đại diện (agent). Chính vì thế mà lí thuyết này thường được gọi dưới tên tổng quát hơn là kinh tế học thông tin*. Người ủy quyền đề nghị một hợp đồng với người đại diện cho mình, được giả định là có thông tin tốt hơn người ủy quyền trên một điểm thiết yếu của hợp đồng này. Để là tối ưu, hợp đồng này phải tính đến một cách rõ ràng những biện pháp động viên người ủy quyền trong việc tận dụng thông tin của mình. Ví dụ, trong kinh tế học về sự quy định hóa, người ủy quyền là người ra quy định và người đại diện là doanh nghiệp bị quy định ràng buộc. Doanh nghiệp có thông tin tốt hơn về năng lực sản xuất (ví dụ, các chi phí) của mình. Vai trò của người ra quy định là thiết kế một hợp đồng cho phép tối thiểu hóa chi phí sản xuất của sản phẩm bị quy định hóa. Tiếp tục đọc

On Economic Inequality

Amartya Sen
Amartya Sen

Sen Amartya K.

On Economic Inequality

The Radcliffe Lectures Delivered in the University of Warwick,

1972, Oxford, Clarendon Press, 1973

Phiên bản mới có bổ sung một phụ lục đáng kể của Foster James E. và Sen Armata K.,

Oxford, Clarendon Press, 1997

Amartya Sen sinh năm 1933 ở Bengale (Ấn Độ). Thuở nhỏ, nạn đói lớn năm 1943 để lại ấn tượng sâu sắc nơi ông, và dù bản thân không bị đói, năm 9 tuổi ông đã nhận thấy rằng những nạn nhân của nạn đói là những người nghèo. Nhận xét này có vẻ là tiểu tiết nhưng việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu của Sen trái lại chứng minh tầm quan trọng của nó. Amartya Sen tốt nghiệp tiến sĩ ở đại học Cambridge (Anh) năm 1959 và từng là giáo sư kinh tế ở Ấn Độ, London School of Economics (nhiệm sở của ông vào lúc On Economic Inequality được xuất bản) và đại học Oxford. Tiếp đó, ông là giáo sư kinh tế và triết học tại đại học Harvard, trước khi quay trở lại, năm 1998, Trinity College ở Cambridge (mà ông từng là fellow – [nghiên cứu sinh – ND] – từ 1957 đến 1963). Ông được vinh danh nhiều lần trong suốt sự nghiệp của ông, trong đó có giải Nobel kinh tế do Hàn lâm viện Thụy Điển trao năm 1998 vì sự đóng góp cho kinh tế học phúc lợi. Tiếp tục đọc

Social Choice and Individual Value

Kenneth Arrow 5Arrow Kenneth J.

Social choice and Individual Values

New York, Wiley, 1951

Bản dịch tiếng Pháp: Choix collectif et préférences individuelles, Paris, Calman-Lévy, 1974

Sinh năm 1921, Kenneth Joseph Arrow trải qua thời trẻ ở New York. Năm 1941, tốt nghiệp cử nhân toán tại đại học Columbia, ông tiến hành tại đây luận án tiến sĩ sau khi chiến tranh kết thúc. Ông chọn kinh tế học, do chịu ảnh hưởng của Harold Hotelling, một nhà kinh tế độc đáo và sáng tạo. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ ngay từ 1950, khi năm trước đã chấp nhận làm thành viên ban giảng dạy của đại học Stanford, nơi ông sẽ tiến hành một phần lớn sự nghiệp hàn lâm. Toàn bộ những công trình của ông khiến tác giả nhận giải Nobel kinh tế năm 1972, và có thể nghĩ rằng chỉ những công trình vào đầu những năm 1950 đủ để ông nhận được giải này rồi. Tại Hoa Kì, thời kì cuối cuộc thế chiến thứ hai và những buổi đầu của cuộc chiến tranh lạnh tương ứng với những tiến bộ sẽ trở thành cột mốc của khoa học kinh tế. Social choice and Individual ValuesLí thuyết ra quyết định cá nhân trong tình thế bất trắc có một bước tiến lâu bền. Tương tự như thế với lí thuyết trò chơi (von Neuman và Morgenstern, 1944; Nash, 1950 và 1951). Mặt khác, một số vấn đề chủ yếu do lí thuyết cân bằng chung cạnh tranh đặt ra cũng được giải quyết dứt điểm (Arrow, 1951; Arrow và Debreu, 1954). Cuối cùng luận án của Arrow nằm ở cội nguồn của một bộ môn mới gọi là lí thuyết lựa chọn xã hội và là nội dung của bài trình bày này. Được công bố lần đầu năm 1951, song chúng tôi sẽ chủ yếu dựa vào lần tái bản năm 1963, được tác giả làm phong phú thêm bằng những bình luận để phản ứng lại các phê phán. Tác phẩm của Fleurbaey (1996) là một tổng hợp xuất sắc bộ môn mới này.

Tiếp tục đọc

Human Capital: A Theoretical and Empirical Anlaysis, with Special Reference to Education

Becker Gary S.

Human Capital Gary BeckerHuman Capital: A Theoretical and Empirical Anlaysis, with Special Reference to Education

Journal of Law and Economics, New York, Columbia University Press for the NBER

[2nd ed., 1975, 3rd ed, 1993, Chicago University Press]

[http://www.nber.org/chapters/c3730.pdf]

Vốn con người là toàn bộ những năng lực lâu dài mà việc sở đắc và sở hữu khiến con người có năng suất hơn trong những hoạt động khác nhau của mình. Những năng lực này, một phần là bẩm sinh và một phần là sở đắc nhờ những đầu tư của con người để tự nguyện huy động những nỗ lực và phí tổn cá nhân. Bản chất những đầu tư con người này là vô cùng đa dạng và bao gồm kiến thức, kĩ năng, sức khỏe, sự dịch chuyển và động cơ của các tác nhân. Một thời gian dài bị xem nhẹ vì những lí do ý thức hệ, vốn con người đã được lí thuyết kinh tế công nhận, rồi dần dần đi vào ngôn ngữ thông thường, kể từ lần xuất bản đầu tiên tác phẩm của Becker: Human Capital [Vốn con người] (1964).

The Economics of DiscriminationGary Stanley Becker được 34 tuổi vào lúc tác phẩm này được xuất bản, từ đó quyển sách được tái bản hai lần, năm 1975 và 1993, và mỗi lần đều có bổ sung. Bảy năm trước đó, ông đã thể hiện mối quan tâm đối với những vấn đề “xã hội”, thoát ra khỏi một quan niệm hạn hẹp về phạm vi của phân tích kinh tế do truyền thống áp đặt khi cho xuất bản luận văn tiến sĩ của mình, The Economics of Discrimination [Kinh tế học về sự phân biệt đối xử] (1957). Trong suốt sự nghiệp của mình, phong cách rất dễ nhận diện của Gary Becker mang một dấu ấn kép: ông không ngừng mở rộng trường của phân tích kinh tế và tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên lí kinh tế của học thuyết chính thống về tính duy lí của các tác nhân và về sự cân bằng của các thị trường. Đặc biệt, ta gặp lại phong cách này trong tác phẩm chủ yếu thứ hai của ông là A Treatise on the Family [Chuyên luận về gia đình] (1981). Tiếp tục đọc

Vốn con người

Gary Becker 1VỐN CON NGƯỜI

Về tác giả

Gary S. Becker là giáo sư kinh tế học và xã hội học tại trường Đại học Chicago, giáo sư tại trường Đào tạo Sau đại học về Kinh doanh, là thành viên cao cấp giữ ghế của Rose-Marie & Jack R. Anderson tại Viện Hoover thuộc trường Stanford. Ông là người tiên phong trong nghiên cứu về vốn con người và đã được trao giải Nobel năm 1992 về Khoa học Kinh tế.

Đối với hầu hết mọi người, vốn có nghĩa là một tài khoản ngân hàng, một trăm cổ phiếu của IBM, dây chuyền sản xuất, hay các nhà máy thép ở khu vực Chicago. Tất cả đều là các dạng thức của vốn theo nghĩa chúng là tài sản tạo ra thu nhập và những đầu ra có ích khác trong thời gian dài.

Tuy nhiên, những dạng thức hữu hình đó không là loại vốn duy nhất. Việc đi học ở trường, khóa đào tạo về máy tính, chi tiêu cho chăm sóc y tế, và những bài giảng về giá trị của thói quen đúng giờ và đức tính trung thực cũng chính là vốn. Bởi vì chúng góp phần cải thiện thu nhập, tăng cường sức khỏe, hay trang bị thêm những thói quen tốt cho cá nhân trong phần lớn cuộc đời của anh ta. Do vậy, các nhà kinh tế xem chi tiêu cho giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế, và v.v… là đầu tư vào vốn con người. Chúng được gọi là vốn con người vì con người không thể tách rời khỏi kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, hay những giá trị khác của bản thân tương tự như kiểu tách rời con người khỏi tài sản tài chính và tài sản vật chất của họ. Tiếp tục đọc

Coase Ronald H.

Coase - The problem of Social Cost The Problem of Social Cost

Author(s): R. H. Coase Source: Journalof Law and Economics, Vol. 3 (Oct., 1960), pp. 1-44

Published by: The University of Chicago Press

 

Khi Ronald Coase công bố đóng góp “The Problem of Social Cost” [Vấn đề chi phí xã hội], ông đã được cộng đồng các nhà kinh tế thừa nhận là tác giả từng làm sáng tỏ một vấn đề thiết yếu: vì sao người ta tạo ra những định chế kinh tế và với qui mô nào? Sinh năm 1910, ông học đại học Dundee rồi London School of Economics, nơi ông được phong làm giảng viên năm 1947 và dạy những vấn đề liên quan đến các dịch vụ công. Các nghiên cứu của ông dẫn ông đến khoa học quản lí, vì tự nhận mình ít có khiếu về các môn nhân văn và không thích toán học. Ông đặt câu hỏi sau: vì sao người ta giám sát các công ti theo các thứ bậc mà không kiểm tra toàn bộ nền kinh tế theo cùng cách ấy? Ông trả lời là khi xem xét các bên tham gia trong các cuộc trao đổi càng ở xa nhau hay càng chuyên biệt thì những chi phí thông tin và phối hợp mà cách tổ chức theo thứ bậc kéo theo sẽ trở nên quá đáng và không nhất thiết có đối phần là sự gia tăng giá trị của sản phẩm thuần. Do đó có những ranh giới cho doanh nghiệp và có thể quyền lợi của doanh nghiệp là để cho thị trường cung cấp cho mình những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp từ bỏ việc tự sản xuất lấy. Đó là nội dung của đóng góp thiết yếu đầu tiên của ông năm 1937, “The Nature of the Firm” [Bản chất của công ti]. Bằng cách nhận diện các chi phí giao dịch này để đối lập với các chi phí sản xuất, hay chi phí về thời gian và nỗ lực cần thiết cho việc chuẩn bị, thiết lập và theo dõi các hợp đồng, ông đi đến kết luận rằng như vậy công ti xuất hiện khi việc huy động và tổ chức trực tiếp các nhân tố sản xuất là ít tốn kém hơn việc tìm mua các nguồn lực được sản xuất bên ngoài doanh nghiệp. Qui mô của doanh nghiệp tăng đến điểm mà chi phí tổ chức nội bộ của việc

sản xuất lớn hơn các chi phí giao dịch gắn với việc thị trường cung cấp các sản phẩm ấy. Do đó công ti hiện ra như một chùm những “hợp đồng nội bộ”. Bằng cách giải thích sự ra đời của định chế doanh nghiệp bằng các chi phí giao dịch, Coase khai trương một truyền thống từ đây không ngừng kích thích những nghiên cứu, giải thích và đề xuất (Williamson, 2000).

Năm 1960, Coase nối dài và vượt qua phân tích trên, sau khi rời nước Anh năm 1951 để sang Hoa Kì lần lượt giảng dạy tại các đại học Buffalo và Virginia.

Tiếp tục đọc

Williamson Oliver E.

Markets and Hierarchies  Williamson Oliver E.

  Markets and Hierarchies.

Analysis and Antitrust Implications

New York, Free Press, 1975

 Việc xuất bản Markets and Hierarchies [Những thị trường và thứ bậc], năm 1975, đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng và ảnh hưởng của một nhà kinh tế còn trẻ, cho đến lúc bấy giờ được biết đến nhất về những công trình trong kinh tế học doanh nghiệp. Sinh tại bang Wisconsin năm 1932, trước tiên học kĩ sư ở MIT. Việc học tập này dẫn ông khám phá thế giới các tổ chức công cộng và tư nhân khiến ông theo học quản lí, trước tiên ở Standford với sự hỗ trợ của Arrow, rồi ở Carnegie-Mellon, nơi ông gia nhập nhóm những nhà nghiên cứu xuất sắc tập hợp chung quanh Herbert Simon và Richard Cyert. Tại đây ông viết một luận án về hành vi quản lí, The Economics of Discretionary Behavior: Managerial Objectives in a Theory of Economics of the Firm [Kinh tế học về hành vi tùy nghi: các mục tiêu quản lí trong kinh tế học công ti], thể hiện mối quan tâm của ông đối với công ti và xác lập vững chắc sự nổi tiếng của mình trong giới các nhà kinh tế doanh nghiệp và các nhà quản lí. Trong những năm sau đó, các ảnh hưởng trên được kết hợp với sự say mê của ông đối với học thuyết thể chế của Commons (1934) và việc gặp gỡ những công trình của Coase, đặc biệt là “The Nature of the Firm” (1937) [Bản chất của công ti]. Sau vài bài báo hiệu, vận dụng khái niệm chi phí giao dịch, một khái niệm sẽ trở thành hòn đá tảng trong thiết kế lí thuyết của ông, Williamson công bố tác phẩm năm 1975, sau khi gặp khó khăn để tìm một nhà xuất bản. Ảnh hưởng của tác phẩm là to lớn và lâu dài, trong kinh tế lẫn trong quản lí và các khoa học xã hội – nó được rất nhiều nhà xã hội học và chính trị học trích dẫn. Tiếp sau đó là hai tác phẩm nổi bật, The Economic Institutions of Capitalism (1985) [Những thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản] và The Mechanisms of Governance (1996) [Những cơ chế điều hành]. Tuy nhiên quyển sách thứ nhất vẫn là

tác phẩm có ý nghĩa nhất do toàn bộ những chủ đề được ông đưa vào, đặc biệt là ý tưởng về một học thuyết tân thể chế đặt cơ sở trên cách tiếp cận bằng khái niệm chi phí giao dịch, ý tưởng cho rằng nền kinh tế thị trường được thể hiện bằng những đánh đổi giữa những cách thức tổ chức các giao dịch ấy và rằng những quan hệ hợp đồng giữ một vai trò then chốt trong các đánh đổi trên và ý tưởng cho rằng doanh nghiệp quyết định hợp nhất các hoạt động chủ yếu bị chi phối bởi những nhận định về tính hiệu quả của các giao dịch.

Tiếp tục đọc