Chúng ta có một nghĩa vụ đạo lý: nỗ lực xây dựng một xã hội bình đẳng hơn

Sự thể là chính Marx cũng đã không nói nhiều về chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa cộng sản, cũng như về chủ nghĩa tư bản. Ông viết về xã hội tư sản…

Bài trả lời phỏng vấn cuối cùng của Eric Hobsbawm:

“CHÚNG TA CÓ MỘT NGHĨA VỤ ĐẠO LÝ: NỖ LỰC XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI BÌNH ĐẲNG HƠN”[1]

Eric J. Hobsbawm (1917-2012)

Wlodek Goldkorn thực hiện vào tháng Năm 2012 – L’Espresso, 01/10/2012

Vũ Ngọc Thăng dịch

Bằng một kiểu thang máy hộp, Eric Hobsbawm xuống cái cầu thang dốc nhà ông tại khu Highgate ở London, không xa nơi an nghỉ của người thầy lớn và người truyền cảm hứng cho ông: Karl Marx. Ông đã trải qua một cuộc phẫu thuật khiến cho việc đi đứng trở nên khó khăn. Ông đã được 95 tuổi, tuy nhiên, khi mà cơ thể cho thấy dấu hiệu của tuổi tác, thì đầu óc ông, người được coi là nhà sử học đương đại lớn nhất, vẫn là của một chàng trai trẻ. Ông đang viết một luận văn về Tony Judt, một trí thức người Anh mất sớm cách đây hai năm. Nói chuyện với BBC, ông chủ động hơn bao giờ hết. Ông chưa bao giờ thôi không còn là người Mácxít. Với cuộc phỏng vấn này của “L’Espresso”, một trong những lần cực hiếm mà ông nhận lời, ông đã yêu cầu được gửi các câu hỏi qua điện thư, thế là buổi phỏng vấn được bắt đầu theo cái sườn đã thỏa thuận, nhưng chỉ sau một vài phút thì nó chuyển sang một cuộc đối thoại cô đúc và tự nhiên với người phỏng vấn. Ông vào chuyện:

“Anh đã hỏi tôi liệu có khả thể một chủ nghĩa tư bản mà không có những cuộc khủng hoảng hay không?”. Không thể. Khởi từ Marx, chúng ta biết rằng chủ nghĩa tư bản hoạt động thông qua những cuộc khủng hoảng và những lần tái cấu trúc. Vấn đề là ở chỗ chúng ta chưa thể biết mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng hiện nay, bởi chúng ta vẫn đang chìm trong đó. Tiếp tục đọc

Advertisements

Con đường tơ lụa: quay trở lại một trục huyền thoại

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA: QUAY TRỞ LẠI MỘT TRỤC HUYỀN THOẠI

Alexandre Gandil & Antoine Richard

Đàn lạc đà và người chăn nó tại trại lều (của người Mông Cổ) Adjar, trên bản vẽ lịch sử của con đường tơ lụa (Ảnh: LEMAIRE STEPHANE / HEMIS. FR / AFP)

Trong gần 2.000 năm, con đường tơ lụa là câu nói cửa miệng của mọi người, trong tất cả các túi tiền và tất cả các sàn giao dịch. Và tình hình dường như lặp lại ngày nay. Không một tuần nào trôi qua mà chính phủ Trung Quốc không công khai đề cập đến con đường tơ lụa, được hồi sinh thông qua dự án hàng đầu của họ “Một vành đai Một con đường – nhất đới, nhất lộ”. Tiếp tục đọc

Ngăn chặn sự bất bình đẳng

NGĂN CHẶN SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG

Phân tích | Ngăn chặn sự bất bình đẳng

Ngày: 24/10/2016

Các tác giả: Tancrède Voituriez, Emmanuelle Cathelineau, Françoise Rivière

Chủ đề: Phát triển và công bằng

Các khu vực: Mỹ La tinh, Thế giới, Chile

Hồ sơ: Kết thúc sự bất bình đẳng

Thế giới đã trở nên giàu có hơn bao giờ hết, nhưng sự bất bình đẳng cũng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết ở rất nhiều quốc gia tại phương Nam cũng như phương Bắc. Làm thế nào để lí giải xu hướng này? Những phương hướng hành động sắp tới là gì? Tiếp tục đọc

Phỏng vấn Gregory Mankiw

PHỎNG VẤN GREGORY MANKIW

Brian Snowdon, Howard R. Vane Peter Wynarczyk

Gregory Mankiw sinh tại Trenton, New Jersey năm 1958. Ông học xong đại học Princeton năm 1980 trước khi tốt nghiệp PhD kinh tế tại đại học Massasuchetts Institute of Technology vào năm 1984. Từ 1985, ông giảng dạy tại đại học Harvard và là giáo sư kinh tế tại đại học này.

Gregory Mankiw là một trong những nhà kinh tế hàng đầu của kinh tế học keynesian mới. Trong số những quyển sách ông đã công bố, có thể kể: New Keynesian Economics, Vol. I, Imperfect Competition and Sticky Prices (MIT Press, 1991), viết chung với David Romer, New Keynesian Economics, Vol. II, Coordination Failures and Real Rigidities (MIT Press, 1991), viết chung với David Romer và Macroeconomics (Worth Publishers, 1994). Những bài viết của ông được biết đến nhiều nhất là: “Intertemporal Substitution in Macroeconomics”, Quarterly Journal of Economics (1985), viết chung với Julio Rotemberg và Laurence Summers, “Small Menu Costs and Large Business Cycles: A Macroeconomic Model of Monopoly”, Quarterly Journal of Economics (1985), “The New Keynesian Economics and the Output-inflation Trade-offs”, Brookings Papers on Economic Activity (1965), viết chung với  Laurence Ball và David Romer, “Real Business Cycles: A New Keynesian Perspective”, Journal of Economic Perspectives (1969), “International Evidence on the Persistence of Economic Fluctuations”, Journal of Monetary Economics  (1989),  viết chung với John Campbell, “A Quick Reresher Course in Macroeconomics”, Journal of Economic Litterature (1990), “The Reincarnation of Keynesian Economics”, European Economic Review (1992), “A Contribution to the Empirics of Economic Growth”, Quarterly Journal of Economics (1992), viết chung với David Romer và David Weil, “The Growth of Nations”, Brookings Papers on Economic Activity (1995), và “The Inexorable and Mysterious Tradeoff between Inflation and Unemployment”, Economic Journal (2001).

Cuộc phỏng vấn giáo sư Mankiw diễn ra trong văn phòng ông tại đại học Harvard ngày 18 tháng hai 1993 và sau đó được bổ sung bằng thư từ trong tháng hai và ba năm 1998. Tiếp tục đọc

Các lý thuyết tiền tệ: mặt phải mặt trái

Những bí ẩn của tiền tệ

CÁC LÝ THUYẾT TIỀN TỆ: MẶT PHẢI MẶT TRÁI

Patrick CASTEX

Patrick Castex

Một số phân tích khẳng định rằng tiền tệ không gây ảnh hưởng đến sự vận hành thực của nền kinh tế, một số phân tích khác thì nói ngược lại. Nếu có khả năng gây ảnh hưởng nhiều, thì các chính sách tiền tệ cũng có những hạn chế.

Trước tiên chúng ta chỉ thấy có tiền tệ. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, với trường phái trọng thương, tiền tệ là thực tế của sự giàu có: tiền tệ, đó là vàng hay bạc. Khi cô nàng (tiền tệ) khỏe mạnh, thì giá cả tăng lên. Khi thiết lập một quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng tiền tệ trong lưu thông và tình trạng lạm phát, Jean Bodin đã phát triển lý thuyết định lượng tiền tệ đầu tiên, vào giữa thế kỷ XVI. Trước đây, lạm phát (“giá cả đắt đỏ mọi thứ” được lý giải bởi việc các quân vương “cắt xén” trọng lượng các kim loại quý trong các đồng tiền: cũng một đồng tiền đó nhưng có trọng lượng kim loại ít hơn sẽ cho phép mua ít hàng hơn. Nhưng chúng ta thấy lợi nhiều hơn hại ở sự việc trên: sự kích hoạt các giao dịch trao đổi thương mại và sự cắt giảm lãi suất thực tế (một khi tình trạng lạm phát đã hạ) đã được các nhà buôn và các quân vương, những người vay tiền quy mô lớn, đánh giá cao, do đã thấy một phần nợ của họ bị tình trạng lạm phát ăn bớt. Tiền tệ không mang tính trung lập trong sự vận hành thực của nền kinh tế.

Do tiền tệ là sự giàu có, nên một trong những mục tiêu của chính sách kinh tế là thu hút càng nhiều càng tốt các nguồn tiền thặng dư từ hải ngoại, được các nhà buôn ưa chuộng và các quân vương dùng làm cơ sở tính các loại thuế. Tiền tệ, năng động và sống động, được làm bằng thứ thịt ngon miệng, tự bản thân nó là một mục tiêu; do đó, việc gia tăng khối tiền tệ là điều đặc biệt có lợi.

Tuy nhiên, lý luận của trường phái trọng thương chứa đựng một khía cạnh nguy hại: sự phát triển các thặng dư thương mại, khi lượng tiền tăng lên sẽ làm cho giá cả tăng theo. Điều này làm cho việc cạnh tranh với bên ngoài thêm nặng gánh, góp phần làm giảm thặng dư từng mong muốn. Lý thuyết ngoại thương của trường phái trọng thương, trước khi bị trường phái tự do trao đổi thương mại phá bỏ, đã bị bào mòn bởi con sâu của lý thuyết định lượng. Tiếp tục đọc

Dự kiến duy lí

DỰ KIẾN DUY LÍ

Rational Expectations

® Giải Nobel: ARROW, 1972 – DEBREU, 1983 – LUCAS, 1995

Người ta nói rằng bài viết công bố năm 1961 trong tạp chí Econometrica dưới ngòi bút của John Muth không có mấy tiếng vang. Thế mà đó lại là bài viết báo hiệu một trong những chuyển động phong phú nhất của tư tưởng đương đại. Thuật ngữ “dự kiến duy lí”, được tựa bài nêu bật, đã trở thành một trong những từ chủ của phân tích kinh tế. Nội dung của bài dưới đây, do chính ngay sự thành công của thuật ngữ này, có những lựa chọn không hiển nhiên và chắc chắn là chủ quan.

Trước hết phải nói ngay là bài này không nhằm trình bày toàn bộ những công trình qui chiếu rõ ràng hay ngầm ẩn đến khái niệm dự kiến duy lí. Thật thế làm như vậy sẽ phải điểm qua hầu hết lí thuyết kinh tế hình thức hoá đương đại. Sau đây là một vài ví dụ. Tiếp tục đọc

Có phải cuối cùng vấn đề bất bình đẳng thu nhập đã đứng đầu trong chương trình nghị sự của IMF?

CÓ PHẢI CUỐI CÙNG VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP ĐÃ ĐỨNG ĐẦU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ CỦA IMF?

Christian Proaño

Tổng thống Hoa Kỳ vừa rời nhiệm sở Barack Obama đã nêu đích danh việc giảm bất bình đẳng kinh tế như là “định rõ thách thức của thời đại chúng ta”. Cái này đúng không chỉ cho Hoa Kỳ – quốc gia giàu nhất và, cùng lúc, là nơi có sự bất bình đẳng của cải lớn nhất – mà còn cho phần lớn các nước khác trên khắp thế giới, không phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của họ. Vậy thì, ví dụ như, hệ số Gini trung bình của thu nhập hộ gia đình khả dụng trên toàn khối OECD chạm mức cao nhất của nó từ những năm giữa thập niên 1980, từ 0,315 năm 2010 lên 0,318 năm 2014 (OECD, 2016).

Sự bất bình đẳng kinh tế đến cực độ là không mong muốn vì nhiều lý do. Đầu tiên và chủ yếu, sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản đến cực độ có khả năng gây nguy hại đến sự bình đẳng đạo đức (“mọi người được sinh ra đều bình đẳng”), làm suy yếu nền tảng của những xã hội dân chủ. Khi một phần lớn của cải nằm trong tay của vài người có đặc quyền, thì sự tiếp cận bình đẳng đến những hàng hóa công danh nghĩa như giáo dục hay hệ thống tư pháp độc lập có thể sẽ không được bảo đảm. Vì sự bất bình đẳng kinh tế có thể làm trầm trọng hơn sự bất bình đẳng về cơ hội, có khả năng củng cố sự phân tầng và chia rẽ xã hội trong một quốc gia, làm cho xã hội nước đó có xu hướng nghiêng hơn đến các phong trào chính trị cực đoan, như các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ và những sự phát triển chính trị toàn cầu khác đã cho thấy. Và thứ hai, sự bất bình đẳng kinh tế rõ rệt có thể góp phần tạo ra sự bất ổn của hệ thống kinh tế vĩ mô toàn cầu thông qua việc tạo nên những sự mất cân bằng to lớn, kiểu như thông qua tiêu dùng bằng vay nợ quá mức, như ở Hoa Kỳ, hay thông qua tổng cầu nội địa yếu và thặng dư ngoại thương quá lớn, như ở Trung Quốc và Đức. Tiếp tục đọc