Cơ sở của phân tích tiền tệ

money-tree-3Cơ sở của phân tích tiền tệ

Micro-foundations of monetary analysis

® Giải Nobel: ARROW, 1972 – DEBREU, 1983 – FRIEDMAN, 1976 – HICKS, 1972 – LUCAS, 1995 – TOBIN, 1981

Tiền tệ là công cụ duy nhất của trao đổi. Tiền tệ được dùng làm thước đo giá trị cho tất cả các sản phẩm và đảm nhận việc bảo tồn giá trị này. Do những chức năng này là những chức năng nội tại và chỉ riêng của tiền tệ nên việc tiền tệ hoá nền kinh tế là một giai đoạn quan trọng của nền kinh tế tiền tệ (Clower, 1968). Từ đó có thể suy ra rằng có được phân bổ tối ưu các nguồn lực trong một nền kinh tế tiền tệ là nhanh hơn việc có được phân bổ này trong một nền kinh tế hiện vật (Ostroy & Starr, 1973). Tiền tệ tránh được việc tìm kiếm sự trùng khớp nhu cầu trao đổi sản phẩm (Jevons, 1875), tạo những khả năng trao đổi vốn không thể có được trong một nền kinh tế hiện vật (trường hợp của Menger, 1892), tiết kiệm những chi phí giao dịch (Niehanss, 1971). Tiền tệ không đòi hỏi phải có đầu tư về thông tin để được sử dụng như phương tiện trao đổi (Brunner & Meltzer, 1971). Cụ thể hơn, khi tiền tệ được tạo sinh, thì đó là một công cụ tài trợ cho Nhà nước hay cho các doanh nghiệp; khi tiền tệ được sử dụng thì tiền tệ được dùng vừa để chi trả những nhân tố sản xuất vừa cho phép cầu làm cân bằng cung những sản phẩm mới được sản xuất. Schumpeter (1936) nhấn mạnh vai trò của ngân hàng trong việc “ứng trước” cho nền kinh tế. Về phần mình, Keynes (1936) khẳng định là do nền kinh tế nằm trong thời gian và do một số quyết định được lấy trong tình thế bất trắc, nên tiền tệ giữ một vai trò thiết yếu vì, bằng cách tạo một mối liên hệ giữa hiện tại và tương lai, tiền tệ được các tác nhân xem như một bảo hiểm phòng chống một số rủi ro và như thế cho phép, khi lượng tiền thoả mãn sự ưa thích thanh khoản của các tác nhân, duy trì hoạt động và việc làm ở một mức mong muốn. Còn nhà trọng tiền Milton Friedman (1956), dựa trên phân tích thực nghiệm, phát biểu rằng tiền tệ là quan trọng (money matters). Đọc tiếp

Một câu chuyện về quyền lực

jacksonville-barter-exchange-tradingTiền tệ được dùng vào việc gì?

Là một công cụ trao đổi đơn giản đối với các nhà kinh tế, tiền tệ trước hết là một sự được mất về quyền lực và là một vec-tơ gắn kết xã hội mạnh mẽ. Các đường nét của nó không ngừng tiến hóa theo thời gian, để trở nên mờ nhạt với sự tài chính hóa nền kinh tế.

2. Một câu chuyện về quyền lực

Christian CHAVAGNEUX

Để củng cố quyền lực, các nhà buôn, các chủ ngân hàng và các quân vương đã chiến đấu qua nhiều thế kỷ để kiểm soát việc phát hành tiền tệ. Đọc tiếp

“Cuộc chơi lớn” về thương mại đang bước vào giai đoạn sôi nổi

TẠI TRUNG TÂM CỦA KHU VỰC ĐÔNG NAM Á, “CUỘC CHƠI LỚN” VỀ THƯƠNG MẠI ĐANG BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN SÔI NỔI

Jean-Raphaël Chaponnière

Từ trái sang phải, Tổng thống Mỹ Barack Obama bên cạnh Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ 11 tại Vientiane vào ngày 08 tháng 9, 2016. (Ảnh: YE AUNG THU/AFP)
Từ trái sang phải, Tổng thống Mỹ Barack Obama bên cạnh Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ 11 tại Vientiane vào ngày 08 tháng 9, 2016. (Ảnh: YE AUNG THU/AFP)

Nhân dịp hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Tổng thống Obama đã lần đầu tiên có chuyến viếng thăm Lào, đất nước bị bỏ bom nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam, trong tư cách là một nguyên thủ quốc gia Mỹ, đất nước này đã biến mất khỏi radar của Washington. Chuyến viếng thăm của ông Obama được thực hiện sáu tháng sau chuyến viếng thăm của ông tại Việt Nam. Với 180 triệu dân, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV), nằm ngay ở các bậc thềm với Trung Quốc, là một vấn đề được thua của các cường quốc. Đọc tiếp

Những phức tạp trong cõi trung mô

mesoscopiqueNhững phức tạp trong cõi trung mô

Hàn Thủy 

Giữa đất trời còn chứa nhiều những thứ

Không có trong giấc mộng triết gia[1]

Shakespeare, Hamlet, Hồi I, cảnh V

Cõi trung mô là cái chi mô? xin tạm dùng chữ trung mô (mésoscopique) để chỉ cái phạm vi ở giữa cõi vi mô (microscopique), vô cùng nhỏ, và cõi vĩ mô (macroscopique), vô cùng lớn; tóm lại có thể gọi là cái cõi đời thường, trong đó đầy rẫy những vấn đề. Khoa học ngày nay vẫn tiếp tục đi sâu vào vi mô và vĩ mô để tìm đến tận cùng những quy luật cơ bản của thế giới tự nhiên. Nhưng một hy vọng nảy ra từ thời cổ điển, cho rằng khi đã hiểu được những gì sâu kín và cao xa nhất thì có thể từ đó lý giải mọi vấn đề trong đời thường, đến ngày nay hình như bế tắc. Người ta thấy rằng việc khảo sát những hiện tượng trong cõi trung mô cần đến những phương pháp đặc thù, tuy rằng những quy luật của tự nhiên, dù ở phạm vi nào đi nữa, cũng không thể mâu thuẫn với nhau.

Bài này tiếp tục những lần trước, giới thiệu một giấc mộng mới của khoa học: nghiên cứu về sự phức tạp. Như thế cũng đủ ngông cuồng, vì làm sao nói một cách đơn giản về sự phức tạp? vì vậy trước tiên cần phá giải cái nghịch lý này: nếu có thể giải thích một cách đơn giản về một vấn đề cụ thể được coi là phức tạp thì nó đã… hết phức tạp! Nhưng tham vọng của những nghiên cứu về sự phức tạp không phải để giải quyết mọi khó khăn phức tạp cụ thể, mà nhằm bàn về sự phức tạp nói chung, với hy vọng sẽ có ích trên từng vấn đề cụ thể. Bàn một cách khoa học có nghĩa là giới hạn rõ phạm vi nghiên cứu, phân loại theo định tính (qualitative), rồi tiến tới định lượng (quantitative). Đây là một cách tiếp cận đã trở nên cần thiết trước những thách đố quá lớn lao của thời đại: bảo vệ môi sinh, giải quyết nạn nhân mãn, khủng hoảng kinh tế tiếp tục trong một thế giới phát triển không đồng đều…, năng lượng, tiền tệ, giáo dục, thể chế chính trị, v.v.. Mọi thứ đều liên kết chằng chịt với nhau, nghiên cứu những quan hệ đã trở nên quan trọng hơn đi sâu vào từng phạm vi, cái năng động và không ổn định đã trở nên quan trọng hơn sự thăng bằng khô cứng và ảo tưởng. Chưa nói đến những câu hỏi nghìn đời của tôn giáo và triết học: từ đâu nảy sinh sự sống, từ đâu nảy sinh bản năng, ý thức trí tuệ? mà hiện nay một số nhà khoa học tấp tểnh muốn trả lời – ở mức độ giả thuyết –. Những vấn đề này xin hẹn dịp khác sẽ đề cập. Đọc tiếp

Kết quả giải Sách hay 2016

hieu-ngheo-thoat-ngheo-2KẾT QUẢ GIẢI SÁCH HAY 2016

Sáng ngày 18.9.2016, tại khách Sạn Rex, TP. HCM, Quỹ văn hóa Phan Châu TrinhViện nghiên cứu phát triển IRED đã công bố kết quả Giải sách hay 2016.

Năm nay, trong hạng mục sách hay về kinh tế, cuốn Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam của Trần Văn Thọ được trao giải cho thể loại sách viết và cuốn Hiểu nghèo thoát nghèo. Cách mạng tư duy để thoát nghèo trên thế giới của Abhijit V. Banerjee & Esther Duflo do Nguyễn Lê Bảo Ngọc dịch, được trao giải cho thể loại sách dịch.

PTKT xin chúc mừng các tác giả, dịch giả và đơn vị xuất bản. Nhân dịp này PTKT đăng lại dưới đây bài phỏng vấn một đồng tác giả là Esther Duflo: “Khi kinh tế học phát triển được thử thách trên thực địa”.

* * *

KHI KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN ĐƯỢC THỬ THÁCH TRÊN THỰC ĐỊA

Giáo dục, tín dụng nhỏ, chính sách y tế, … 

Làm thế nào kiểm định thật sự hiệu quả của một chính sách công? Esther Duflo trình bày những nguyên lí của phương pháp thực nghiệm được bà tinh chỉnh trên thực địa ở nhiều nơi trên thế giới.

Esther Duflo (1972-)
Esther Duflo (1972-)

Esther Duflo, sinh năm 1972, cựu sinh viên Trường đại học sư phạm Paris (ENS) và tiến sĩ kinh tế, hiện là giáo sư kinh tế học phát triển tại đại học MIT, đồng sáng lập và giám đốc Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab. Năm 2010 bà được giải John Bates Clark của Hội kinh tế Mĩ dành cho nhà kinh tế làm việc ở Hoa Kì dưới 40 tuổi, và giải Calgo-Armengol về những đóng góp của bà cho lí thuyết và sự hiểu biết các cơ chế tương tác xã hội.

Trong cuộc trò chuyện dưới đây, Esther Duflo đề cập lại cách tiếp cận “ngẫu nhiên” trong kinh tế học, bản chất những dự án đã tiến hành và cách quản lí chúng; bà cũng trả lời những băn khoăn mà đôi lúc một cách tiếp cận như thế gợi lên.

Esther Duflo là nhà kinh tế phát triển tại đại học Masachussets Insititute of Technology. Tháng giêng 2009, bà giảng dạy chuyên ngành “Kiến thức chống nghèo khó” tại Pháp quốc học viện. Là nhà đồng sáng lập tổ chức Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab, bà bảo vệ việc tiến hành thử nghiệm in vivo (trong cuộc sống) trong kinh tế. Theo khuôn mẫu của những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trong các “khoa học cứng”, các thí nghiệm ngẫu nhiên này có những lợi thế nhất định, đặc biệt là trong việc kiểm tra các tham số có thể làm chệch việc phân tích các cơ chế được nghiên cứu. Tuy nhiên các thử nghiệm này cũng đặt ra những vấn đề đạo đức và khoa học luận. Đọc tiếp

Châu Á và nỗi buồn của toàn cầu hóa lần thứ hai

Châu Á và nỗi buồn của toàn cầu hóa lần thứ hai

Jean-Raphaël Chaponnière

Xe tải chở container tại cảng Qingdao (Thanh Đảo), Trung Quốc, ngày 12 tháng 4 năm 2016. (Ảnh: Stringer/Imaginechina/via AFP)
Xe tải chở container tại cảng Qingdao (Thanh Đảo), Trung Quốc, ngày 12 tháng 4 năm 2016. (Ảnh: Stringer/Imaginechina/via AFP)

Liệu sự kiện Brexit có kích hoạt sự kết thúc của toàn cầu hóa lần thứ hai hay không? Cuộc bỏ phiếu của người dân Anh cho thấy toàn cầu hóa không còn thành công và các số liệu thống kê đã cho thấy nó đang hụt hơi: trong năm 2015, thương mại thế giới đã co lại và điều này vẫn tiếp diễn trong quý I năm 2016. Đọc tiếp

Khi cú hích đi quá xa và quá mạnh

misbehaving-the-making-of-behavioral-economicsKHI CÚ HÍCH ĐI QUÁ XA VÀ QUÁ MẠNH

Chủ nghĩa gia trưởng và cạm bẫy của kinh tế học hành vi

Phillip L. Swagel

Ở thủ đô Washington, luật sư có thể rất uy quyền, thế nhưng chính những nhà kinh tế học mới là người thúc đẩy quá trình hoạch định chính sách. Vào tháng 7 năm 2009, Douglas Elmendorf, nhà kinh tế học đứng đầu Ủy ban Ngân sách Quốc hội [Hoa Kỳ] đã suýt nữa chặn đứng Đạo luật bảo vệ bệnh nhân và chăm sóc y tế giá phải chăng [Affordable Care Act] (tên gọi khác là Obamacare) khi ông công bố rằng, như soạn thảo, dự luật này sẽ không “giảm đáng kể khoản chi cho y tế liên bang” — trái ngược hẳn với những lời khẳng định ban đầu của những kẻ ủng hộ đạo luật này vốn phải vội vã thay đổi dự án luật. Các nhà kinh tế học cũng chi phối giới học thuật hàn lâm nhiều đến nỗi những nhà khoa học xã hội khác gọi kinh tế học là “bộ môn ngạo mạn” (the imperial discipline); [và] chỉ trích xu hướng vượt quá giới hạn cho phép của nó.

Đúng như lời chỉ trích: nhiều nhà kinh tế học tin rằng họ có thể giải thích các hiện tượng chính trị và xã hội tốt hơn các nhà chính trị học hay xã hội học. [Thâm chí] lòng tự tin nơi họ phản ánh niềm tin rằng kinh tế học chặt chẽ hơn về mặt toán học và có căn cứ về mặt lí thuyết hơn các ngành khoa học xã hội khác. Theo những nhà kinh tế học chuyên nghiệp, kinh tế học không chỉ đưa ra các phân tích chi tiết về sự vận hành của xã hội (chẳng hạn như xác định ai là người bị ảnh hưởng bởi một loại thuế cụ thể) mà còn đề ra các khuyến nghị về chính sách mang tính quy phạm (chẳng hạn như xác định mức thuế tối ưu). Đọc tiếp