Erving Goffman – Người khám phá cái siêu nhỏ

CÁI CHẾT CỦA NHÀ XÃ HỘI HỌC ERVING GOFFMAN. NGƯỜI KHÁM PHÁ CÁI SIÊU NHỎ

Pierre Bourdieu

Erving Goffman (1922-1982)
Erving Goffman (1922-1982)

Forms of TalkNhà xã hội học Canada Erving Goffman đã qua đời ngày 19 tháng 11 năm 1982 tại Philadelphie vào tuổi 60. Pierre Bourdieu, giáo sư tại Học Viện Pháp Quốc, người đã giới thiệu sự nghiệp của Goffman ở Pháp qua việc xuất bản các tác phẩm của Goffman ở nhà xuất bản Editions de Minuit, giúp cho chúng ta hiểu được tầm quan trọng của sự nghiệp của Goffman.

Sự nghiệp của Goffman là sản phẩm hoàn hảo nhất của một cách độc đáo và hiếm có nhất để làm xã hội học: đó là cách nhìn thực tại xã hội từ một khoảng cách rất gần và rất lâu, cách mặc áo trắng của người thầy thuốc để xâm nhập vào bệnh viện tâm thần và tự xây dựng một chỗ đứng ngay tại nơi xảy ra vô số những sự tương tác cực nhỏ mà sự điều hợp tạo nên đời sống xã hội. Tiếp tục đọc

Advertisements

Bitcoin, tiền kỹ thuật số và blockchain: ảo ảnh hay phép lạ

BITCOIN, TIỀN KỸ THUẬT SỐ VÀ BLOCKCHAIN: ẢO ẢNH HAY PHÉP LẠ?

MATTHIEU MONTALBAN, Đại học Bordeaux

hinhdaubaiNhững thực tiễn liên quan đến Bitcoin và blockchain (chuỗi khối hay công nghệ chuỗi khối) đang bắt đầu lan rộng. Đối với một số người, đó chỉ là một vật dụng mới lạ, hoặc là một trò bịp, đối với một số người khác đó là một cuộc cách mạng thực sự có thể làm biến đổi hệ thống tiền tệ và tài chính, hoặc thậm chí cả hệ thống kinh tế, một cách lâu dài. Trong bài viết này, chúng tôi điểm qua nguồn gốc, những tiềm năng và rủi ro liên quan đến các loại tiền kỹ thuật số và blockchain. Bài viết này sẽ tập trung vào các loại tiền kỹ thuật số như Bitcoin. Sau khi giới thiệu nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số, chúng tôi sẽ xem xét những nguyên nhân và lợi thế giải thích sự phát triển của Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác. Sau đó chúng tôi sẽ thảo luận về những hạn chế của chúng và những phê phán có thể có. Tiếp tục đọc

Khái niệm bóc lột: từ học thuyết Marx sang học thuyết tân cổ điển

KHÁI NIỆM BÓC LỘT: TỪ HỌC THUYẾT MARX
SANG HỌC THUYẾT TÂN CỔ ĐIỂN 

Trần Hải Hạc

Đại học Paris XIII

 Cách đây ba năm – năm 2002 -, nổi lên ở Việt Nam cuộc thảo luận về vấn đề bóc lột: nhân câu hỏi “đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân hay không?”, Đảng cộng sản Việt Nam có kêu gọi tranh luận, phản biện trong tinh thần tự do tư tưởng.[1] Một số bài thuyết trình tại các cuộc hội thảo được xuất bản trong tập sách Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh Cừ (chủ biên), 2003]. Tham gia đầu tiên từ nước ngoài vào cuộc thảo luận này là bài Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết giá trị thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại của Vũ Quang Việt trình bày tại hội thảo hè Maine 2002 [tu chỉnh và đăng lại trong Thời Đại Mới số này]. Đó là khởi điểm của một số trao đổi, tranh luận, trong đó có bài Học thuyết Marx, Đảng cộng sản Việt Nam và vấn đề bóc lột mà tôi có viết cho hội thảo hè Munchen 2003 [Thời Đại số 8, 2003 – xem những trao đổi với Vũ Quang Việt trên http://www.viet-studies.org/Munchen2003.htm].[2]

Karl Marx (1818-1883)
Karl Marx (1818-1883)

Bài viết này đưa tôi đến hai nhận định: (1) Trước khi bàn cãi trên vấn đề bóc lột trong khu vực kinh tế tư bản chủ nghĩa, ­dù sao cũng là những quan hệ công khai, hợp pháp và chính đáng – chí ít trong quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” -, cần ưu tiên xem xét, đánh giá sự tồn tại của những quan hệ bóc lột trong khu vực kinh tế quốc doanh, bởi đó là những quan hệ hiện bị che giấu, có tính phi pháp và khoác áo xã hội chủ nghĩa. Từ chối nêu vấn đề bóc lột trong nền kinh tế nhà nước là rơi vào sự sùng bái nhà nước mà Marx đã phê phán. (2) Cách đặt vấn đề bóc lột tư bản chủ nghĩa trong Đảng cộng sản Việt Nam nhắm vào tư bản chức năng mà bỏ qua tư bản sở hữu, nhìn thấy tư bản thật mà bỏ quên tư bản giả – trong đó có nhà đất đang là nguồn thu nhập chính của một số đông đảng viên hiện nay. Các định nghĩa giới hạn quan hệ bốc lột tư bản chủ nghĩa trong hình thái lợi nhuận doanh nghiệp cho thấy rằng phân tích của Marx về sự sùng bái tư bản không phải là thừa.

Theo tôi hiểu, cuộc thảo luận tại Việt Nam đã ngưng lại từ khi Đảng cộng sản không còn đặt câu hỏi về bóc lột đối với các đảng viên chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân nữa. Hội nghị 12 của Ban chấp hành trung ương, vào đầu tháng 7 vừa qua, đã công khai hoá điều này, và đại hội X sắp tới của đảng sẽ sửa đổi điều lệ để chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân; hơn thế, đảng cộng sản còn chủ trương phát triển đảng trong giới doanh nhân, tiến tới kết nạp những chủ tư bản.[3]

Đồng thời, một số khẳng định ngày càng phổ biến trong đảng viên cho rằng cách Marx hiểu bóc lột – trong thuyết về giá trị thặng dư – gắn với thời kỳ của chủ nghĩa tư bản thế kỷ thứ 19, so với thời kỳ bây giờ, có phần không hợp thời nữa.[4]  Không những thế, còn có nhận định rằng nền kinh tế thị trường không còn bóc lột lao động làm thuê khi mà người lao động được trả công theo năng suất.[5] Về mặt lý luận, có thể nắm bắt ở đây một xu thế chuyển dịch khái niệm bóc lột từ học thuyết Marx sang kinh tế học tân cổ điển.[6] Bài viết năm 2002 của Vũ Quang Việt đã biểu hiện xu thế đó.[7]

Vilfredo Pareto (1848-1923)
Vilfredo Pareto (1848-1923)
NPG x17395; Joan Violet Robinson by Walter Bird
Joan Robinson (1903-1983)

Lịch sử tư tưởng kinh tế đã chứng kiến nhiều lần kinh tế học tân cổ điển tìm cách định nghĩa lại khái niệm bóc lột trong khuôn khổ lý luận về cân bằng kinh tế vi mô. Bài viết dưới đây, trước hết, sẽ xem xét những lý luận gắn bóc lột với tính không hoàn hảo của thị trường [phần I]: đó là thuyết về bóc lột “mang tính độc quyền” do Joan Robinson [1933] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng riêng phần; và thuyết về bóc lột “lẫn nhau” do Vilfredo Pareto [1902-1903] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng chung. Trong thập niên 80, John Roemer [1982] xây dựng lại thuyết về bóc lột trong khuôn khổ cân bằng chung của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, và gắn khái niệm “khái quát” về bóc lột với tính không bình đẳng trong phép phân bổ của cải ban đầu trong xã hội [phần II].

Xem xét và đánh giá các khái niệm khác nhau về bóc lột là làm rõ ý nghĩa của những suy nghĩ và thảo luận hôm nay trên vấn đề lý luận này – không chỉ ý nghĩa về mặt học thuật mà cả về mặt chính trị nữa. Tiếp tục đọc

Tưởng nhớ Bernard Maris, nhà tư tưởng phê phán

TƯỞNG NHỚ BERNARD MARIS, NHÀ TƯ TƯỞNG PHÊ PHÁN

CHRISTIAN CHAVAGNEUX

hinhdaubaiNgày thứ Tư, 7 tháng 1 năm 2015, nhà kinh tế học Bernard Maris đã bị sát hại tại văn phòng của tuần san Charlie Hebdo. Là người đồng hành từ lâu của tạp chí Alternatives Economiques, ông luôn chia sẻ mối quan tâm của chúng ta về một nền giáo dục kinh tế mang tính phê phán. Chúng tôi đăng lại ở đây bài viết của người viết xã luận của chúng tôi, Christian Chavagneux, được đăng một ngày sau cái chết của Bernard Maris. Christian Chavagneux là người đã cùng làm việc với Bernard Maris trong nhiều năm trong chương trình On n’arrête pas l’éco [Chúng ta không ngừng nói về kinh tế] trên đài France Inter. Christian Chavagneux đã vinh danh Bernard Maris thay mặt cho toàn thể đội ngũ biên tập viên chúng tôi.

Không, nhưng anh đã nghe đó Bernard! Mọi người đều nói đến “nhà kinh tế học Bernard Maris. Tôi nghe được tiếng đáp của anh từ đây: “Ah, bọn ngốc!”. Từ cuốn sách đầu tiên đến cuốn sách cuối cùng của anh, anh chưa bao giờ ngừng chế giễu giới quyền uy các nhà kinh tế học có môn bài mà những bài viết của họ, theo như anh đã viết, đối với thực tế kinh tế giống như “các ô chữ đối với văn bản của Proust”! Tiếp tục đọc

Những đồng tiền thay thế để làm biến đổi xã hội

NHỮNG ĐỒNG TIỀN THAY THẾ ĐỂ LÀM BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Marie FARE, nhà kinh tế, UMR Triangle, Đại học Lumière Lyon II.

Từ những năm 1980, đã có nhiều làn sóng đồng tiền địa phương, đồng tiền xã hội và đồng tiền bổ túc nổi lên, từ phương Bắc đến phương Nam, thúc đẩy những cơ năng và mô hình đa dạng.

Người ta gọi các mô hình đó là LETS (Local Exchange Trading System, Hệ thống giao dịch thương mại địa phương). Chúng ra đời vào những năm 1982-1983 ở Canada và là sự khởi đầu của một làn sóng chưa từng có trong lịch sử đương đại của các đồng tiền xã hội và bổ túc (viết tắt là MSC, monnaies sociales et complémentaires). Kể từ đó, sự xuất hiện và phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, của các đồng tiền này đã thúc đẩy những cơ năng và mô hình đa dạng. Thực tế của việc sử dụng và mục đích của các công cụ trao đổi địa phương về sản phẩm, dịch vụ và hiểu biết mới là gì? Các giới hạn và điều kiện để phát triển chúng là gì? Tổng quan.

Việc triển khai một đồng tiền xã hội và bổ túc tự thân nó không phải là một mục đích, nhưng ngược lại là để giúp đạt được một số mục tiêu mà đồng tiền quốc gia chưa đáp ứng được. Có ba mục tiêu chính: hỗ trợ sự phát triển địa phương, làm tăng giá trị các hành vi về sinh thái và tăng cường sự hỗ trợ và đoàn kết lẫn nhau. Nếu một số các đồng tiền này được tạo ra và phát triển trong các thời kỳ khủng hoảng kinh tế (đồng Wir ở Thụy Sĩ trong những năm 1930, hay đồng Trueque Argentina vào đầu những năm 2000), thì có những đồng tiền khác được tạo ra với viễn cảnh làm biến đổi xã hội (quá trình chuyển đổi) từ nhận định là một cuộc khủng hoảng nhiều chiều kích (kinh tế, xã hội, môi trường và biểu tượng) đòi hỏi phải có những phản ứng mang tính hệ thống. Thế nhưng, tiền tệ mang tính đặc biệt “dễ bảo” và có thể tăng củng cố việc quảng bá và triển khai bền vững nhiều mục tiêu về xã hội, kinh tế và môi trường. Tiếp tục đọc

Triết học đã bén rễ

Suy nghĩ nhân đọc Trò Chuyện Triết Học của Bùi Văn Nam Sơn

TRIẾT HỌC ĐÃ BÉN RỄ[1]

NGUYỄN XUÂN XANH

“Tư tưởng chúng ta là số phận chúng ta.[2]

Arthur Schopenhauer

“Con người càng thiếu hiểu biết về chính mình, càng hoang mang hơn trước tương lai đầy bất trắc.[3]

Bùi Văn Nam Sơn

(I)

Bùi Văn Nam Sơn

Thứ năm, ngày 28/6/2012, tác phẩm Trò chuyện triết học của Bùi Văn Nam Sơn được ra mắt chính thức cùng với đại diện Sài gòn Tiếp Thị, nơi đã chuyển tải các bài viết triết lý trong tập sách trên hai năm qua, cùng với đại diện của nxb Tri Thức và Cty Sách Thời Đại. Thành phần cử toạ không phải chỉ là những “nhà triết học tháp ngà”, mà đến từ nhiều thành phần xã hội: sinh viên, nhà giáo, giáo sư đại học, bác sĩ… Đó là một buổi trò truyện thú vị hơn hai tiếng đồng hồ rất sôi động, chứng tỏ sự quan tâm lớn của nhiều giới đến triết học.

Với sự tích luỹ tám năm qua và một chuỗi công bố những tác phẩm kinh điển của triết học cổ điển Đức, với những cố gắng và năng lực phi thường, bắt đầu từ quyển kinh điển Phê phán lý tính thuần tuý của Immanual Kant năm 2004, tác phẩm triết học thế giới đầu tiên ở Việt Nam đã đem lại cho Bùi Văn Nam Sơn giải Phan Châu Trinh rất xứng đáng, quyển sách Trò chuyện triết học bốn trăm trang được viết cho đại chúng của tác giả có thể nói đánh dấu một sự kiện có ý nghĩa trong sinh hoạt trí thức của thành phố: Triết học đã bén rễ trên mảnh đất này.

Đọc Trò chuyện triết học, người ta có cảm tưởng đang bước lên những bậc thang ngày càng cao của “tháp ngà triết học”, không phải để tách rời khỏi xã hội, mà để nhìn qua các cửa sổ thấy được thế giới nhiều hơn, xa hơn, và để trở lại hiểu xã hội nhiều hơn. Triết học phương Tây đã từng được đưa lên trời rồi kéo xuống đất, nay được Bùi Văn Nam Sơn đem về Việt Nam và đưa vào tờ báo thị trường cho công chúng. Quyển sách quá đẹp, quá hay, có tính học thuật cao mà lại bình dị, xen lẫn với những vần thơ Việt Nam tươi mát. Bùi Văn Nam Sơn với tri thức uyên bác đã rút ngắn được từ kho báu triết học phương Tây thành những mạch văn tài tình đượm chất nhận thức cho những người Việt Nam bình dị. Tiếp tục đọc