Trong khi theo đuổi lí tính, con người đã đánh mất một phần nhân tính của mình

TRONG KHI THEO ĐUỔI LÍ TÍNH, CON NGƯỜI ĐÃ ĐÁNH MẤT MỘT PHẦN NHÂN TÍNH CỦA MÌNH

Liệu chúng ta có đang tự huyễn hoặc chính mình để tôn thờ thần tượng sai lầm?

Hunter Maats, Katie O’Brien

Loài người thật đáng ngạc nhiên. Con người ta đã tạo ra công nghệ cho phép xử lí hàng ‘zetta byte’ [mỗi zetta byte bằng một ngàn tỉ giga byte] thông tin và in 3D. Những người liệt chi dưới đã có thể đi lại với sự hỗ trợ của bộ quần áo người máy, và những đứa trẻ sơ sinh khiếm thính đã có thể nghe được (lần đầu tiên) nhờ vào việc cấy ghép ốc tai — và ta có thể xem tận mắt tất cả điều này trên kênh Youtube. Đáng ngạc nhiên nhất là việc ta hạ cánh thành công một tàu thăm dò xuống một ngôi sao chổi đang di chuyển với vận tốc 80.000 dặm/giờ [= 128.000 km/h]. Loài người đang đến gần với việc chinh phục thế giới vật chất này hơn bao giờ hết. Ta đã trở thành các chuyên gia trong việc chuyển biến các thách thức trong cuộc sống của mình trở nên dễ dàng hơn từ bệnh tật đến nguồn cung thực phẩm hay lao động tay chân.

Và bất chấp tất cả điều này, những cuộc bạo động vẫn nổ ra sau sự kiện ở Ferguson, bang Missouri [Mỹ]. Tổ chức Hồi giáo cực đoan ISIS tiếp tục giành lãnh thổ ở Trung Đông và gieo rắc nỗi kinh hoàng cho người dân ở các nước phương Tây. Làm sao có thể bất chấp tất cả tiến bộ đã đạt được, mà ta vẫn dậm chân tại chỗ trong việc giải quyết các vấn đề xưa-cũ như chủ nghĩa khủng bố, nghèo đói, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, giáo dục, hoặc môi trường? Tại sao chúng ta lại có vẻ như đang ngày càng xa rời việc giải quyết các vấn đề đời thường nhất mà loài người phải đối mặt, trong khi đang có nhiều nguồn lực đầu tư hơn bao giờ hết cho phép ta tiếp cận các vấn đề từ quan điểm kĩ thuật, khoa học, hoàn toàn thuần lí?

Phải chăng, trong sự hứng khởi về sự tiến bộ công nghệ của mình, chúng ta đang tự huyễn hoặc chính mình để tôn thờ thần tượng sai lầm (false idol)[1]. Ta đã chìm sâu đến mức ám ảnh vào công nghệ, rô-bốt học, dữ liệu lớn (big data) — đó là những thứ lạnh lùng, [đầy các con số] tính toán và duy lí — mà ta quên mất rằng thứ tài sản quý giá nhất ta có để giải quyết các vấn đề của loài người chính là nhân tính (humanity) của ta. Tiếp tục đọc

Phỏng vấn Robert Barro

Robert Barro (1944-)

PHỎNG VẤN ROBERT BARRO

Brian Snowdon, Howard VanePeter Wynarczyk

Robert Barro sinh tại New York năm 1944. Ông đỗ BSc (về vật lí) tại Cal Tech năm 1965 và PhD kinh tế tại đại học Harvard vào năm 1969. Ông đã giảng dạy trong nhiều đại học, đại học Brown (1968-72), Chicago (1973-75 và 1982-84) và Rochester (1975-1982). Ông từng là Visiting Fellow tại Hoover Institution của đại học Standford (1977-78). Từ 1988, ông là giáo sư kinh tế tại đại học Harvard.

Giáo sư Barro được thừa nhận là một nhà kinh tế vĩ mô Mĩ hàng đầu và là một trong những kiến trúc sư của kinh tế học cổ điển mới. Trong số những quyển sách nổi tiếng nhất của ông có thể kể: Money, Employment and Inflation (Cambridge University Press, 1976), viết chung với Herschel Grossman. Money, Expectations and Business Cycle (Academic Press, 1981), Modern Business Cycle (Harvard University Press, 1989), chủ biên Robert Barro và Macroeconomics (Wiley, 4th edition, 1993). Tiếp tục đọc

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3):

CÁC HIỆU ỨNG

Xin được nói rõ: các nhà kinh tế đã sáng tạo hoặc tưởng tượng cả khối hiệu ứng (hiệu ứng tích tụ, tập huấn, bất ngờ, lấn thế, thu nhập, giá cả…). Chúng tôi chỉ đề cập dưới đây những hiệu ứng mang tên của những tác giả đã xây dựng chúng.

Hiệu ứng Balassa (hay hiệu ứng Balassa-Samuelson)

Ở những nước nghèo, giá cả đi xe taxi, giá cả ăn uống ở nhà hàng và giá cả các dịch vụ khác của địa phương đặc biệt rẻ so với giá cả ở những nước như Pháp hay Hoa KỳTại sao? Đối với Bela Balassa (1928-1991), một nhà kinh tế học người Hungary từng làm việc tại Hoa Kỳ cùng với Paul A. Samuelson (được “giải thưởng Nobel kinh tế” năm 1970), điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Một phần khác của câu trả lời xuất phát từ tỷ giá hối đoái có hiệu lực tại quốc gia đó. Tỷ giá hối đoái được xác định bởi nhu cầu cân đối các hoạt động xuất nhập khẩu. Nhưng những người lao động sản xuất ra các hàng hoá xuất khẩu, nói chung, có năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với những người lao động ở Pháp, dẫn đến tỷ giá hối đoái thấp hơn giữa nước có liên quan và Pháp, nếu không thì giá bán các sản phẩm được Pháp nhập khẩu sẽ đắt quá và sẽ không bán được hoặc bán không nhiều. Tiếp tục đọc

Kinh tế học vĩ mô mới

KINH TẾ HỌC VĨ MÔ MỚI

New Macroeconomics

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – HAYEK, 1974 – LUCAS, 1995

Có lẽ ngày nay việc giảng dạy kinh tế vĩ mô là khó hơn cách đây ba mươi hay bốn mươi năm trước khi mà phân tích dựa trên một mô hình keynesian đơn giản hoá: biểu đồ 450, rồi mô hình IS-LM (hay mô hình Hicks-Hansen) được bổ sung trước tiên bằng một đường Phillips rồi sau đó tính đến những quan hệ với nước ngoài, thường là trong khuôn khổ của mô hình Mundell-Fleming, vốn chỉ là một biến thể của mô hình IS-LM.

Mô hình của sự tổng hợp và việc xét lại mô hình này

Trong nhiều thập niên, trình bày trên là cơ sở của kinh tế học vĩ mô. Cho đến tận những năm 1960, người ta chủ yếu quan tâm đến việc cải tiến và tinh vi hoá những hàm kinh tế vĩ mô chính (hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, v.v.). Người ta chứng minh, với giả thiết tính cứng nhắc của lương danh nghĩa, rằng những kết quả “keynesian” chính hoàn toàn tương hợp với một mô hình tân cổ điển truyền thống. Do điều thường được chấp nhận là lương còn xa mới linh hoạt trong ngắn hạn, nên hình như là một điều tự nhiên khi xem rằng lí thuyết keynesian là xác đáng cho việc nghiên cứu những biến động và mất cân bằng ngắn hạn, còn mô hình cân bằng chung vẫn còn xác đáng để phân tích dài hạn; như thế người ta có thể là một nhà keynesian trong ngắn hạn và là một nhà tân cổ điển trong dài hạn; đó là điều được gọi là trường phái của sự tổng hợp. Tiếp tục đọc

Những bài học về các cuộc khủng hoảng tiền tệ

khung-hoang-tien-teNHỮNG BÀI HỌC VỀ CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ

Jacques ADDA

Vốn mang bản chất và cường độ khác nhau, mỗi cuộc khủng hoảng tiền tệ đòi hỏi những biện pháp khắc phục phù hợp. Nhưng tất cả cho thấy sự mong manh của mối quan hệ xã hội mà đồng tiền dựa vào.

Nói về cuộc khủng hoảng tiền tệ, là gợi lên tính mong manh của khế ước xã hội mà dựa trên đó hình thành nên tiền tệ. Về mặt lịch sử, ban đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức một loại hàng hóa đặc biệt, thường là một kim loại quý, được chấp nhận như là một phương tiện để thanh toán các khoản nợ được thỏa thuận trong các giao dịch trao đổi (giao dịch thương mại) hoặc ngoài giao dịch trao đổi (các khoản nợ tài chính) và được lưu giữ như là một tài sản dự trữ có giá trị. Giá trị nội tại của đồng tiền, được xác định qua trọng lượng, là cái đảm bảo khả năng thanh toán của nó. Đồng tiền có thể được kiểm định qua cân lượng và được đảm bảo khi mà việc phát hành tiền tệ mang tính tập trung và được một quốc vương bảo đảm, với dấu ấn của người trên mặt sau của đồng tiền. Tiếp tục đọc

GMO: một báo cáo quan trọng của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ bị hoen ố bởi các xung đột lợi ích

GMO: MỘT BÁO CÁO QUAN TRỌNG CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC HOA KỲ BỊ HOEN Ố BỞI CÁC XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Tháng 5 năm 2016, định chế [Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ] đã đưa ra một báo cáo rất được chờ đợi về những điều có lợi và bất lợi tiềm tàng của các loại cây trồng biến đổi gen. Hai nhà nghiên cứu người Mỹ đã làm rõ những xung đột lợi ích không được công bố trong hội đồng được tuyển chọn để tiến hành cuộc giám định.

Stéphane Foucart

Tháng 5 năm 2016, Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ đã đưa ra một báo cáo rất được chờ đợi về các loại cây trồng biến đổi gen. Bản báo cáo tổng kết khoa học này, được công bố công khai trên toàn thế giới – kể cả trên tờ Le Mondeđã kết luận rằng không có nguy cơ về sức khỏe và môi trường từ các loại cây biến đổi gen được thương mại hóa, nhưng lại nhấn mạnh đến sự thiếu vắng các lợi ích về lợi nhuận. Tiếp tục đọc

Hữu hạn và vô cùng

Khoa học kỹ thuật và văn hoá ‒ 4

HỮU HẠN VÀ VÔ CÙNG

Hàn Thuỷ

“Nắm bắt tư tưởng khoa học hiện đại trong biện chứng của nó…”
(Gaston Bachelard, le nouvel esprit scientifique)

1. Biện chứng và khoa học

Biện chứng? khái niệm sơ đẳng này của người học triết hay làm khoa học nhân văn là cái gì vô cùng bí hiểm với phần đông người làm khoa học chính xác (trong đó có tác giả), vậy xin cứ mạn phép múa rìu qua mắt thợ mà tự hỏi “biện chứng là cái gì vậy?”. Suy theo từ nguyên thì ‘biện chứng’ dịch chữ ‘dialectique’, phiên âm chữ Hy lạp ‘dialektikè’; chữ này gồm ba gốc: ‘dia’ là có hai bên, ‘lexis’ là ngôn từ và ‘technè’ là cái cách, cái thuật. Tóm lại trong văn hoá Hy Lạp cổ đại ‘dialectique’ có nghiã là nghệ thuật biện luận, tranh luận giữa hai bên, ‘technique de dialogue’; rõ ràng một nguồn gốc rất ư ‘nhân văn’. Bước thứ hai cũng rất nhân văn là quan niệm của Platon, theo đó biện chứng là sự trao đổi những ý kiến đối chọi để đi đến đồng ý trên một cái nhìn cao hơn, bao quát hơn dung hoà được cả hai bên (theo dictionnaire de la philosophie, Jacqueline Russ chủ biên, nxb Armand Colin). Từ đó đẻ ra ba ngôi: chính đề, phản đề, tổng hợp; phương pháp làm luận văn được giảng dạy trong trường trung học; đến bước thứ ba này thì cái ‘hai bên’ được trừu tượng hoá, nó lẩn vào trong tư tưởng của một người để trở thành một phương pháp suy luận. Bước thứ tư: tại sao phương pháp suy luận biện chứng tỏ ra có hiệu quả, hay ít ra là có một sức hấp dẫn mãnh liệt? phải chăng vì nó thể hiện được cuộc đời? bản thân cuộc đời biến chuyển theo dòng biện chứng, nó chứa đầy các khía cạnh mâu thuẫn đồng hiện hữu nhưng đối chọi nhau, theo thời gian có thể phủ định lẫn nhau và có thể làm nảy sinh các hiện tượng khác. Các nhà tư tưởng biện chứng nhìn đâu cũng thấy mâu thuẫn, phủ định, phủ định của phủ định, v.v. dù anh theo triết thuyết duy tâm ‘tư tưởng có trước’ hay anh theo triết thuyết duy vật ‘vật chất có trước’! Ðến đây thì thế giới tư tưởng và thế giới vật chất khách quan được hoà vào trong một quan hệ khó tách rời, đó là quan hệ… biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Tiếp tục đọc