Phân Tích Kinh Tế tròn 4 tuổi

PHÂN TÍCH KINH TẾ TRÒN 4 TUỔI

15.11.2014 – 15.11.2018

Ngày 15.11.2014, không ai trong chúng tôi, trong sự phấn khích khi vừa đưa PTKT lên mạng dám mơ là trang sẽ tồn tại đến hôm nay, huống hồ là mơ đạt được trong thời gian gần đây con số hơn 1.000 lượt truy cập mỗi ngày, với nhịp độ hai ngày lên một bài.

Vì thế, khi bước vào tuổi lên năm, việc đầu tiên PTKT xin trân trọng tri ân bạn đọc sắp, đang hay từng là sinh viên/giảng viên kinh tế hay hiện đang hoạt động trong những ngành nghề khác đã đồng hành cùng chúng tôi.

Trong “hành trình gian khổ khám phá miền kinh tế học” sự hưởng ứng của đối tượng thứ ba, vốn chưa được đề cập đúng mức trong lời tự giới thiệu bốn năm trước càng giúp chúng tôi kiên định tinh thần “tự do học thuật” nhằm “tự đào tạo, củng cố, cập nhật, hệ thống hoá và bổ sung kiến thức để tự tin hội nhập vào thế giới”, một thế giới mà trước những thách thức nó đang đối mặt phải cần đến, hơn bao giờ hết, một cách tiếp cận nhiều chiều và đa/liên/xuyên ngành. Những lúc nản lòng muốn rời bỏ cuộc chơi, chính nhờ tựa vào những cú nhấp chuột để mail, like, share của tất cả các bạn mà PTKT còn tiếp tục góp mặt đến tận hôm nay.

Tiếp đến, xin được gởi đến các tác giả đã cho phép chúng tôi đăng lại nhiều bài đã được xuất bản ở nơi khác và các cộng tác viên trong và ngoài nước đã nhận hay chủ động dịch nhiều bài góp phần làm phong phú trang của chúng ta.

Với các bạn mới làm quen hay lâu chưa trở lại với PTKT, chúng tôi cũng xin nói ngắn là kho tư liệu tích luỹ được hiện gồm có gần 800 bài đã đăng và cấu trúc của trang được hình dung như một cuốn sách với các chuyên mục ở ngay bên phải dưới logo là mục lục và các nhãn là bảng tra cứu (index). Mời các bạn xem bản hướng dẫn sử dụng (HDSD) và thuật ngữ phân tích kinh tế Anh-Pháp-Việt mới được cập nhật và để tận dụng hết các công cụ được sử dụng (ví dụ như các infographic) hay nhất là nên truy cập trang bằng laptop hay máy tính để bàn.

Nhóm khởi xướng PTKT

Advertisements

Chi phí-lợi thế (hay phân tích chi phí-lợi ích)

CHI PHÍ-LỢI THẾ (HAY PHÂN TÍCH CHI PHÍ-LỢI ÍCH)

Cost-benefit analysis

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – MIRRLEES, 1996

Một cách logic hạch toán kinh tế tự khẳng định như là phương thức hợp lí hoá những lựa chọn trong những vấn đề kinh tế học công cộng. Phương pháp này thuộc về những kĩ thuật được gọi là cost-benefit analysis (analyse coût-bénéfice) mà ở Pháp ta gọi là “phân tích chi phí-lợi thế” (analyse coût-avantage hay ACA). Những phân tích này được khởi xướng ở Hoa Kì vào đầu thế kỉ XX để xác định lợi ích xã hội của những dự án công cộng lớn huy động những vốn quan trọng và có những tác động kinh tế hay xã hội tiềm tàng đáng kể. Những ứng dụng cụ thể bắt đầu vào năm 1902 với đạo luật River and Harbor Act qui định những cơ sở trên sông và bến cảng. Chi phí kinh tế của những đầu tư công cộng lớn này được ước lượng bằng cách tính đến tác động xã hội của những hiệu ứng của những đầu tư này trên lưu lượng, hoạt động kinh tế và phúc lợi tập thể. Lĩnh vực ứng dụng điển hình nhất cho phân tích này bao phủ diện của những cơ sở hạ tầng đường bộ, những công trình lớn qui hoạch lãnh thổ, qui hoạch đô thị, năng lượng. Do đó phân tích có thiên hướng phát triển đại trà và được phổ biến rộng trong những nước Tây phương sau thế chiến thứ hai. Đặc biệt đó là trường hợp của Anh về mặt giao thông vận tải và điện lực, rồi trễ hơn ở Pháp, kể từ 1967, cho việc đánh giá những dự án công cộng lớn trong những ngành sản sinh ra hoặc những lợi thế tăng dần (năng lượng, vận tải công cộng), hoặc những ngoại ứng và do đó đòi hỏi những suy tư lí thuyết, đặc biệt là để xác định những phương thức định giá tối ưu. Những nghiên cứu này được Maurice Allais (1943), Marcel Boiteux (1956; 1962), Henri Levy-Lambert (1973), Edmond Malinvaud (1972; 1979) và Jean-Claude Milleron (1972; 1979) phát triển và đặc trưng cho điều được gọi là việc “hợp lí hoá những lựa chọn ngân sách”. Nhiệt tình dành cho những kĩ thuật xác định giá trị này nhanh chóng giảm dần ở Pháp ngay từ cuối những năm 1970.

Tuy nhiên những cơ sở của phương pháp đánh giá những lựa chọn công cộng này bắt nguồn từ Jules Dupuit (1844) do việc đánh giá một dự án được xác định bằng khái niệm thặng dư tập thể để ước lượng tác động xã hội thuần của những đầu tư đã thực hiện. Do đó ACA hiện ra như một phương pháp lựa chọn tối ưu dựa trên tiêu chí khả năng sinh lời xã hội tối đa đòi hỏi một ước lượng tiền tệ những lợi thế và chi phí gắn với dự án được xem xét. Do đó qui tắc hàng đầu thuộc về nguyên lí hiệu quả kinh tế và khác biệt rất rõ với nguyên lí của nghĩa vụ dịch vụ công cộng đặt cơ sở trên nguyên lí công bằng giữa các tác nhân trước dịch vụ cung cấp, độc lập với chi phí xã hội phải gánh chịu. Những công trình lí thuyết trong lĩnh vực này được phát triển trong những năm 1950 đến 1970 dưới sự thúc đẩy của nhiều nhà kinh tế trong đại học như P. S. Dasgupta, O. Eckstein, J. Krutilla, R. Dorfman, J. Margolis, S. Marglin, B. Weisbrod. Tiếp tục đọc

Khi Bắc Kinh sử dụng du khách Trung Quốc như một vũ khí ngoại giao phụ trợ và Tại sao du khách TQ đổ về Thái Lan

KHI BẮC KINH SỬ DỤNG DU KHÁCH TRUNG QUỐC NHƯ MỘT VŨ KHÍ NGOẠI GIAO PHỤ TRỢ

East is Red

“Của trời cho” về du lịch của Trung Quốc, vũ khí ngoại giao phụ trợ đối với Bắc Kinh. (Nguồn: Asian Correspondent)

Một gia đình du khách Trung Quốc lăn lộn dưới đất trước một khách sạn ở Thụy Điển, nạn nhân củahành động tàn nhẫn của cảnh sát. Đại sứ Trung Quốc ra mặt lên tiếng. Hình ảnh lan truyền giống như vi-rút trên các mạng xã hội ở Trung Quốc đã gióng lên hồi chuông giống như một biểu lộ bạo lực của chính sách “ngoại giao du lịch” được Bắc Kinh triển khai. Từ Hàn Quốc đến Đài Loan, từ các “Con đường tơ lụa mới” đến Biển Đông, chính phủ Trung Quốc mở hoặc đóng theo ý của họ “của trời cho” tài chính về du lịch để đưa ra các yêu sách về chính trị quốc tế. Các hành động đe dọa này thường có hiệu quả.

Doanh thu của ngành du lịch Trung Quốc tăng cao một cách chóng mặt. Hơn 4.566 tỷ nhân dân tệ vào năm 2017 (hơn 500 tỷ euro) cho khoảng 22,5 triệu công ăn việc làm. Để so sánh, cách đây 10 năm, lĩnh vực này chiếm khoảng năm lần ít hơn, 986 tỷ nhân dân tệ (120 tỷ euro). Và động thái này sẽ còn tiếp tục trong tương lai. Trong thực tế, phần lớn nguồn vốn du lịch của Trung Quốc vẫn còn chờ được khai thác. Ví dụ, Trung Quốc đã đứng thứ hai trên thế giới, sau Italia, về các di tích được UNESCO xếp hạng.

Trong khi ngành du lịch trong nước đang tăng cao, số lượng du khách Trung Quốc đi nước ngoài cũng cao rất đáng kể. Một nghiên cứu của công ty Nielsen đã thống kê có hơn 130 triệu chuyến đi du lịch cá nhân. Trong năm 2017, mức chi tiêu của du khách Trung Quốc ở nước ngoài đạt 292 tỷ US$, trong đó 61% là ở châu Âu. Tầm quan trọng của Trung Quốc trong các nền kinh tế phụ thuộc vào ngành du lịch, ở các nước láng giềng hoặc ở các nước khác trên thế giới, mang lại cho Bắc Kinh một đòn bẩy ảnh hưởng hiệu quả… và một phương tiện trả đũa tiềm tàng. Chế độ chuyên quyền của Trung Quốc và khả năng huy động nhiều thành phần xã hội khác nhau để đạt được mục tiêu, phục vụ cho chiến lược du lịch bất cứ điều gì ngoại trừ tính không có hại. Tiếp tục đọc

Sự phê phán hậu-thực dân phương Tây được tiến hành ngay từ trung tâm của phương Tây

PHỎNG VẤN THOMAS BRISSON: “SỰ PHÊ PHÁN HẬU-THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY ĐƯỢC TIẾN HÀNH NGAY TỪ TRUNG TÂM CỦA PHƯƠNG TÂY”

Sonya Faure thực hiện phỏng vấn

Dù họ là người A Rập, như Edward Said, người Ấn Độ như Gayatri Spivak, hay người Hoa, các trí thức hậu thực dân đã xây dựng sự phê phán Phương Tây của họ từ các trường đại học Mỹ. Theo nhà chính trị học Thomas Brisson, đó là vì sự lưu vong, một tư thế giữa hai nền văn hóa đã cho phép họ xây dựng một tư tưởng lai tạp để tìm kiếm một tính phổ cập mới.

Thomas Brisson

Ai dám nói rằng các công trình nghiên cứu hậu thực dân chỉ là một sự buộc tội Phương Tây và những truyền thống tri thức của nó? Trong cuốn Đẩy phương Tây ra khỏi tâm điểm (“Décentrer l’Occident”), Thomas Brisson, giảng sư chính trị học chính ở trường đại học Paris 8, vạch lại hành trình của một số nhà tư tưởng A Rập, Ấn Độ hay Trung Hoa từ Edward Said đến Ranajit Guha hay Tu Weiming, vốn đã cố gắng xây dựng, từ những năm 1970 và 1980 ngay từ các trường đại học Mỹ, những tư tưởng thay thế cho các tri thức lý thuyết Châu Âu. Là những người có những hiểu biết sâu sắc về triết học của Châu Âu, đã từng là sinh viên rồi giáo sư tại các trường đại học Mỹ, các trí thức hậu thực dân đã xây dựng sự phê phán Phương Tây ngay từ Phương Tây. Họ đã xử lý cái nghịch lý này như thế nào? Tại sao cái tư thế giữa hai nền văn hóa, sự lưu vong lại có tính quyết định trong việc thiết kế một trào lưu tư tưởng mới? Hoàn toàn không phải là một sự biếm họa, chân dung của nhóm tri thức sáng chói này mà nhà chính trí học phác họa, ngược lại, đề cập đến sự lai tạp và một hình thái mới của một tính phổ quát mới. Tiếp tục đọc

Nguồn lực chung, một dự án nhập nhằng

GÌN GIỮ LỢI ÍCH CHUNG CHỐNG LẠI CÁC DOANH NGHIỆP… VÀ CHỐNG LẠI NHÀ NƯỚC

NGUỒN LỰC CHUNG, MỘT DỰ ÁN NHẬP NHẰNG

Được hồi sinh vào những năm 1980, khái niệm “nguồn lực chung [“communs”] hay “sản phẩm chung” [“biens communs”]” ngày càng trở nên phổ biến trong giới các nhà hoạt động cánh tả. Cho dù đó là việc cung cấp nước sinh hoạt hoặc các phần mềm tin học sử dụng tự do, việc quản lý tập thể kết thúc huyền thoại, theo đó sự tư nhân hóa là một đảm bảo cho tính hiệu quả. Nhưng những người ủng hộ [việc quản lý tập thể] cũng thách thức Nhà nước, mà họ chỉ gán cho một vai trò giới hạn.

SEBASTIEN BROCA

Jean Dubuffet. – Tác phẩm “Empressement [Háo hức]”, 1980

© ADAGP, Paris, 2016 / Ảnh: Christie’s / Bridgeman Images

Tiếp tục đọc

Nghệ thuật kể chuyện thúc đẩy tài chính và kinh tế học như thế nào

NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN THÚC ĐẨY TÀI CHÍNH VÀ KINH TẾ HỌC NHƯ THẾ NÀO

Brendan Markey-Towler

Các câu chuyện có thể có tác động sâu sắc đến hành vi của chúng ta. Nguồn: Shutterstock

Trong bài diễn văn gần đây trước Hiệp hội Kinh tế học Hoa Kì (AEA), chủ nhân giải thưởng kinh tế học [để tưởng nhớ] Nobel [năm 2013] Bob Shiller đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các tự sự trong kinh tế học, và đặc biệt là trong các thị trường tài chính. Điều này chứng thực cho một số nghiên cứu gần đây của tác giả và các đồng nghiệp tại Đại học Queensland (Úc) về tâm lý học của kinh tế học hành vi.

Khi tự kể các câu chuyện cho bản thân mình nghe, ta liên kết một số sự kiện khác nhau thành một chỉnh thể liền mạch. Trong các thị trường tài chính và trong toàn bộ nền kinh tế, các câu chuyện này không chỉ tác động đến các kì vọng, mà chúng còn chính các kì vọng. Thêm vào đó, các kì vọng cũng định hình hành vi.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy câu chuyện càng đơn giản, càng mở rộng và càng phù hợp với các định kiến bao nhiêu, thì nó càng thuyết phục hơn bấy nhiêu. Khi một câu chuyện hấp dẫn được khắc ghi vào trong tâm khảm của các nhà đầu tư; thì câu chuyện ấy trở thành kì vọng.

Khi một tự sự kể về một câu chuyện tích cực, chẳng hạn như, về khả năng sinh lời được khắc ghi vào trong tâm khảm của một nhà đầu tư, thì họ sẽ hành động dựa trên nó. Một câu chuyện tích cực dẫn đến những tin tức tốt lành trên thị trường tài chính. Tiếp tục đọc

Edmond Malinvaud, giải thích và giải quyết vấn đề thất nghiệp

EDMOND MALINVAUD, GIẢI THÍCH VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP

Gilles Dostaler

Là nhà kinh tế toán học, người tạo cảm hứng cho trường phái mất cân bằng, Edmond Malinvaud kết hợp kinh tế học vi môkinh tế học vĩ mô, đặc biệt trong phân tích của ông về tình trạng thất nghiệp.

Đối với Edmond Malinvaud, nghiên cứu thực nghiệm cũng quan trọng như nghiên cứu lý thuyết.

Edmond Malinvaud thuộc thành phần một danh sách dài những lí thuyết gia người Pháp về kinh tế học, từng trước tiên học ngành kỹ sư. Ông được đào tạo vững chắc về toán học trước khi chuyển sang kinh tế học. Chính những vấn đề xã hội đã dẫn ông đến với bộ môn này. Ông nhớ lại, trong một văn bản có tính tự truyện, rằng bố ông đã có những ý tưởng xã hội chủ nghĩa và ông bị ấn tượng, từ thời còn trẻ, bởi sự đình trệ mà cuộc khủng hoảng năm 1930 đã nhấn chìm các ngành nghề đồ sứ và nghề đóng giày của Limoges, thành phố quê hương của ông. Tuy là nhà kinh tế toán học, ông cho rằng kinh tế học không được coi thường các vấn đề xã hội và chính trị, nếu không thì chính ta tự làm khó mình để hiểu được sự kết hợp phức tạp của các nhân tố tác động đến sự tăng trưởng và các cấu trúc của xã hội.

Là nhà nghiên cứu đồng thời vừa giảng dạy, là tác giả của rất nhiều bài viết, Malinvaud đã lần lượt cống hiến một phần quan trọng sự nghiệp của ông cho các nhiệm vụ quản lý công như là nhà thống kê, cố vấn kinh tế, điều hành nhiều định chế. Ông luôn tin vào tầm quan trọng của nghiên cứu thực nghiệm, quan sát, cũng như tầm quan trọng của nghiên cứu lý thuyết trên cơ sở của sự khái niệm hóa, mô hình hóa và tính chặt chẽ. Kinh tế học đối với ông là một khoa học, chắc chắn ít chính xác và hoàn thiện bằng các khoa học tự nhiên, nhưng có khả năng giúp cải thiện số phận của nhân loại. Tuy cảnh giác với các nhãn hiệu, ông vẫn tự cho mình gần với học thuyết Keynes hơn là gần với những người tin vào sự cân bằng liên tục và tức thì của thị trường. Ông cho rằng tính duy lý của các tác nhân kinh tế bị hạn chế lớn hơn nhiều so với những người tin vào dòng tư tưởng nói trên. Tiếp tục đọc