Những hứa hẹn của không gian blog kinh tế

NHỮNG HỨA HẸN CỦA KHÔNG GIAN BLOG KINH TẾ

Arthur Charpentier Thomas Renault

Blog cho phép các nhà nghiên cứu bước ra khỏi tháp ngà của họ, giao tiếp với một công chúng rộng lớn hơn và biến các công trình của họ thành một đề tài tranh luận. Tuy nhiên, những ý kiến trao đổi trái chiều vẫn còn quá hiếm trong không gian blog kinh tế Pháp ngữ.

Blog đang chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các cuộc tranh luận về kinh tế. Ngay cả khi blog hoạt động năng động, thì không gian blog kinh tế Pháp ngữ vẫn còn tương đối khiêm tốn so với sự thành công của không gian blog kinh tế Anh ngữ. Về mặt lịch sử, các bài phân tích kinh tế từng được giới thiệu trong các công trình nghiên cứu, các sách báo hoặc tạp chí chuyên ngành, hoặc qua các cột bình luận trên các báo và tạp chí có một công chúng rộng lớn hơn, thậm chí qua các chương trình phát thanh hay truyền hình. Với sự ra đời của các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đã ứng dụng nhiều hình thức khác để thảo luận và giải thích về kinh tế học. Các trang wiki tập thể và hợp tác đã được tạo lập vì mục đích sư phạm đại chúng; các diễn đàn đã được mở ra cho các cuộc tranh luận, nơi mà mọi người đều có thể nói lên tiếng nói và đưa ra ý kiến của mình; và đặc biệt là các blog đã được khởi xướng dưới sự thúc đẩy của những người viết blog, những người đã tìm ra một cách biểu hiện bổ sung cho hoạt động hàng ngày của họ. Thuật ngữ blog[1], ra đời từ sự thu hẹp của thuật ngữ “weblog”, khá mơ hồ để bao phủ các hình thức và thực hành rất khác nhau. Tiếp tục đọc

Hoa Kỳ/ Kenya: Công bố nghiên cứu mới về các kết quả thí điểm thu nhập cơ bản tại Kenya

HOA KỲ/ KENYA: CÔNG BỐ NGHIÊN CỨU MỚI VỀ CÁC KẾT QUẢ THÍ ĐIỂM THU NHẬP CƠ BẢN TẠI KENYA

Austin Douillard

Các phụ nữ tại một làng nông thôn ở phía Tây Kenya. (Andrew Renneisen/Thời báo New York)

GivenDirectly, một tổ chức phi chính phủ đóng tại New York, mà hoạt động đã được Thời báo Thu nhập Cơ bản tường thuật trước đây, đã khởi xướng một chương trình thí điểm tại một làng nông thôn ở phía Tây Kenya, vào tháng Mười vừa qua. Tổ chức vừa mới công bố phân tích nội bộ về chương trình thí điểm, trong một nỗ lực đầu tiên để tổng hợp những kết quả của một dự án của GiveDirectly về thu nhập cơ bản. Những kết quả sẽ tạo lập tinh thần chung cho các chương trình tiếp theo và ảnh hưởng đến chính sách thu nhập cơ bản nhằm tạo bước tiến về phía trước. Tiếp tục đọc

Trung Quốc: “chế độ độc tài hoàn hảo”?

TRUNG QUỐC: “CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI HOÀN HẢO”?

David Bartel

Lễ khai mạc Đại hội lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh vào ngày 12/10/1992. (Ảnh: AFP PHOTO/MIKE FIALA)

Đọc sách: Đây là một cuốn sách rất cần thiết để hiểu được chế độ chính trị ở Trung Quốc ngày nay. Là giáo sư tại Đại học Oxford và chuyên gia phân tích các Nhà nước, Stein Ringen vừa công bố cuốn The Perfect Dictatorship [Chế độ độc tài hoàn hảo] Nhà xuất bản HKU Press.

– Người đối thoại 1: “Trung Quốc là một chế độ độc tài.”

– Người đối thoại 2: “500 triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo đói.”

… Im lặng. (Stein Ringen, The Perfect Dictatorship [Chế độ độc tài hoàn hảo], tr. 135)

Stein Ringen (1945-)

Để thoát khỏi cuộc đối thoại này, khá phổ biến và dường như đi vào bế tắc, thì cuốn sách nhỏ của Stein Ringen là cần thiết. Thật vậy, cuốn sách này gợi ý cho chúng ta hiểu được làm thế nào một chế độ được xây dựng trên cơ sở của “rất nhiều điều đáng ghét” (tr. 135) lại trụ được lâu dài bằng cách áp đặt lên người dân của mình một hình thức thỏa hiệp cưởng bức mà Xu Ben gọi một cách khá thích đáng là một ”sự lựa chọn mà không lựa chọn” và rõ ràng đây là một thắng lợi thầm lặng của chế độ toàn trị (tr. 143)[1]. Chúng ta thực sự khó tưởng tượng được về mặt học thuật rằng một đất nước trên đà phát triển kinh tế – như người ta nói – theo chủ nghĩa tư bản lại có thể tiếp tục đường lối Lêninít về mặt chính trị (tr. 165). Tiếp tục đọc

“think tank”

Nhân đọc hai tác phẩm “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989” và “Phá Rào”

“THINK TANK”

Trần Hải Hạc

Trong Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 – Nhật ký thời bao cấp (bản 2009, sẽ viết tắt TDKT) và ‘Phá rào’ trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới (bản 2009, sẽ viết tắt PR), nhà sử học kinh tế Đặng Phong tạo tính độc đáo khi vận dụng khái niệm phương Tây “think tank” để phân tích diễn biến tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Tác giả mở đầu Tư duy kinh tế Việt Nam với chương nhập đề “Những think tank xưa và nay”, rồi trong lần tái bản đã khai triển phần “think tank ở các nước xã hội chủ nghĩa” và thêm tiểu tựa “think tank về kinh tế Việt Nam” [TDKT, tr. 32 và tiếp theo]. Trong Phá rào, chương kết luận (xem tại đây) nhắc lại đặc điểm của think tank trong thể chế của Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa [PR, tr. 480-481]. Tiếp tục đọc

Trào lưu chính thống và phi chính thống trong kinh tế học phát triển

TRÀO LƯU CHÍNH THỐNG VÀ PHI CHÍNH THỐNG TRONG KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Marc Raffinot

Marc Raffinot

Với sự ngự trị của trào lưu phi chính thống vào những năm 1960 và 1970, rồi của trào lưu chính thống tân tự do vào những năm 1980, kinh tế học phát triển có xu hướng làm mờ đi các ranh giới. Ví dụ, có rất nhiều thành quả kinh tế học “phi chính thống” từ nay sẽ là những sản phẩm trong khung lý thuyết của kinh tế học dòng chính [mainstream].

Kinh tế học phát triển là đối tượng của một sự quan tâm đặc biệt đối với những ai mong muốn đào sâu cuộc tranh luận lặp đi lặp lại giữa kinh tế học chính thống và phi chính thống. Thật vậy, việc thành lập nhánh kinh tế học này vào những năm 1950 bắt nguồn từ một phản ứng chống lại kinh tế học “dòng chính” (kinh tế học chuẩn, tân cổ điển). Hơn nữa, việc phân tích kinh tế học phát triển cung cấp một cuộc kiểm định tuyệt vời về tính xác đáng của những hành vi được giả định bởi kinh tế học chuẩn, ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô. Việc các hành vi đôi khi diễn ra một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt là tại những nước có thu nhập thấp (LIC, Low Income Countries), và ngày càng đi chệch xa khỏi các hành vi được coi là “duy lý” (theo nghĩa hẹp của thuật ngữ) hoặc đơn giản là “bình thường”, tại châu Âu hay Hoa Kỳ, đã ngay lập tức đặt thành vấn đề.

Bên cạnh đó, kinh tế học phát triển tất yếu quan tâm đến những lĩnh vực ở đấy nó cạnh tranh với các ngành khoa học xã hội khác. Thật vậy, đối tượng của chuyên ngành này là sự thay đổi của các nền kinh tế, và rộng hơn là sự thay đổi của các xã hội. Hầu hết các khoa học xã hội khác cũng quan tâm đến sự thay đổi này, tạo ra một sự “cọ sát” liên tục. Điều đáng tiếc, có lẽ do sự phân chia thành một số bộ môn, nên điều xảy ra thường xuyên nhất là những lời kêu gọi nghiên cứu đa ngành, gần như không bao giờ được triển khai một cách nghiêm túc (trong trường hợp tốt nhất, có một số khái niệm hoặc phân tích của các bộ môn khác được ghép với ít nhiều thành công từ bộ môn này sang bộ môn khác).

Kinh tế học phát triển đã trải qua, liên quan đến các mối quan hệ giữa trường phái chính thống và phi chính thống, ba thời kỳ được định ranh khá rõ, mà chúng tôi sẽ trình bày để chỉ ra bằng cách nào hai cực phân tích này tự bản thân đã biến đổi. Do hai thời kỳ đầu là chủ đề của rất nhiều công trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào thời kỳ thứ ba, lựa chọn một số ví dụ để minh họa cho phương pháp này. Tiếp tục đọc

Giáo dục nào cho Tương lai?

GIÁO DỤC NÀO CHO TƯƠNG LAI?[1]

Nguyễn Xuân Xanh

Thích nghi hay tiêu vong, mãi mãi là mệnh lệnh nghiệt ngã của tự nhiên.

H.G. Wells

Một lược sử thế giới, 1922

[Mục đích giáo dục? Cách mạng công nghiệp thế giới. Mục đích đại học. Môi trường thông minh. Tương lai nào cho chúng ta?]

Mori Arinori (1847-1889)

Thứ nhất. Mục đích giáo dục.

Để mở đầu, xin được trích dẫn những lời sắc bén của Vị bộ trưởng giáo dục đầu tiên Mori Arinori của Nhật Bản Minh Trị như một Tuyên ngôn cho ngành giáo dục của đất nước Phù Tang trước thềm cuộc Duy Tân vĩ đại 1868 như sau:

Chiến tranh (sensō) không phải chỉ là đánh nhau bằng súng đạn và giết nhau, mà tất cả mọi người Nhật phải được tham gia ngay từ bây giờ vào cuộc chiến tranh của kỹ năng, kỹ năng của cuộc sống, của công nghiệp, thương mại, tri thức. Và đào tạo thầy giáo phải dựa trên sự chuẩn bị cho cuộc chiến này. Thua cuộc chiến này là sẽ thua cuộc chiến bằng súng đạn. Đất nước chúng ta phải chuyển dịch từ vị trí hạng ba lên vị trí hạng hai, rồi hạng hai lên hạng nhất; và sau cùng lên đến vị trí hàng đầu trong cộng đồng các quốc gia thế giới. Con đường tốt nhất để thực hiện điều này là đặt nền móng cho giáo dục cơ bản”. Tiếp tục đọc

Kinh tế học phát triển

KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Development economics

® Giải Nobel: LEWIS, 1979 – MIRRLEES, 1996 – SCHULTZ, 1979 – SEN, 1998

Đương nhiên là không thể định nghĩa kinh tế học phát triển độc lập với chính ngay khái niệm phát triển, một khái niệm có nhiều định nghĩa. Theo một nghĩa truyền thống đầu tiên, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng thu nhập trên đầu người, bền vững hay tự nuôi dưỡng và được phổ biến rộng trong những tầng lớp khác nhau của dân số. Theo một nghĩa thứ hai, phát triển là việc dân số lần hồi với tới được sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản hay đơn giản hơn là việc từ từ xoá đói giảm nghèo một cách lâu dài. Theo một nghĩa thứ ba, phát triển là việc cải thiện những năng lực con người, điều được A. Sen (Nobel kinh tế 1998), và trước đấy ở Pháp là F. Perroux, làm nổi bật một cách rõ ràng. Nhưng cũng có thể quan niệm phát triển như sự biến đổi của xã hội cho phép thu nhập trung bình tăng trưởng một cách bền vững và cộng dồn, sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo, cải thiện những năng lực của con người. Như thế kinh tế học phát triển là nhánh của khoa học kinh tế phân tích sự phát triển được hiểu như một trong những cách trên (xem những định nghĩa được nêu trong những tác phẩm tổng quát về phát triển trong vòng mười lăm năm qua, Gillis et al., 1989; Guillaumont, 1995; Ray, 1998). Tiếp tục đọc