Sức mạnh của những cú hích tốt và xấu

BY Anthony FredaSức mạnh của những cú hích tốt và xấu

Richard H. Thaler

Những cú hích, tức những thay đổi nhỏ có thể ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi cá nhân, đang trở thành mốt. Những kỹ thuật này dựa trên những hiểu biết sâu sắc của khoa học hành vi, và khi được sử dụng một cách có đạo đức, chúng có thể rất hữu ích. Nhưng chúng ta cần phải đảm bảo rằng không sử dụng chúng để dẫn dắt con người ra những quyết định sai lầm mà họ sẽ hối tiếc về sau. Đọc tiếp

25 công ty này quyền lực hơn rất nhiều nước trên thế giới

Hinh dau bai25 công ty này quyền lực hơn rất nhiều nước trên thế giới

Không được xem là một nhà nước, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty đa quốc gia đang thi đua với các chính phủ về quyền lực toàn cầu. Ai là người chiến thắng?

PARAG KHANNA

Thoạt nhìn, câu chuyện của công ty Accenture giống như nguyên mẫu giấc mơ của người Mỹ. Là một trong những công ty tư vấn lớn nhất thế giới, có doanh thu hàng chục tỷ đô-la hàng năm, được thành lập vào những năm 1950 như là một bộ phận nhỏ của công ty kế toán Arthur Andersen. Dự án lớn đầu tiên của họ là tư vấn cho công ty General Electric để lắp đặt một máy tính tại một cơ sở ở bang Kentucky nhằm tự động hóa quy trình thanh toán. Họ trải qua nhiều thập niên tăng trưởng tiếp theo sau đó, và đến năm 1989, bộ phận đã trưởng thành đủ lớn để trở thành một tổ chức riêng: công ty tư vấn Andersen Consulting. Đọc tiếp

Nhà kinh doanh, tinh thần kinh doanh, và đạo đức kinh doanh

entrepreneurshipNhà kinh doanh, tinh thần kinh doanh, và đạo đức kinh doanh

Trần Hữu Quang

Kinh doanh ở Việt Nam bây giờ đã trở thành một hoạt động bình thường, và từ ngữ “kinh doanh” đã được sử dụng một cách hết sức phổ thông trong đời sống xã hội hàng ngày. Tuy nhiên, xét về mặt lịch sử, nếu hoạt động kinh doanh, hiểu theo nghĩa rộng của từ này, có thể đã diễn ra từ lâu qua các thế kỷ phát triển kinh tế của Việt Nam, thì ngược lại, nhân vật nhà kinh doanh (hay doanh nhân), theo nghĩa mà chúng ta hiểu ngày nay, lại chỉ mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu hình thành nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong thời Pháp thuộc, đặc biệt là ở các đô thị.

Ngay bản thân thuật ngữ “kinh doanh” (hay còn nói là “kinh dinh”) ngày xưa được hiểu là việc tổ chức khai khẩn, mở mang đất đai và lập nghiệp, thường do các bậc vua quan tiến hành, chứ chưa được hiểu theo nghĩa hoạt động làm ăn buôn bán của người thường dân như bây giờ.[1] Cuốn từ điển Annam – La-tinh mà Pigneaux de Béhaine soạn năm 1772-1773 giải thích từ “kinh dinh” là “đặt mọi sự vào chỗ chúng”.[2] Đến năm 1895, cuốn từ điển của Paulus Của vẫn còn định nghĩa từ “kinh dinh” một cách khá chung chung là “sửa sang, sắp đặt”, ví dụ: “kinh dinh việc lớn”.[3] Nhưng sang đầu thế kỷ XX thì từ “kinh doanh” đã bắt đầu gắn liền với những ý niệm mới về sự sinh lợi, việc buôn bán hay hoạt động tài chính, và bên cạnh đó còn xuất hiện những từ mới có liên quan như doanh lợi, doanh nghiệp, thực nghiệp, doanh thương…[4] Đọc tiếp

Huyền thoại về tư lợi đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu như thế nào

Global CrisisHuyền thoại về tư lợi đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu như thế nào

Liệu sự tiến hóa có dạy cho chúng ta điều gì quan trọng về kinh tế học và chính sách công hay không?

Mark van Vugt và Michael Price

Một người bạn của tôi là một nhà quản lý nguồn nhân lực làm việc trong ngành ngân hàng ở Hà Lan vào đầu thế kỷ 21. Đây là thời kỳ những năm vinh quang khi các ngân hàng chuyển từ chỗ bạn có thể bảo vệ các khoản tiền tiết kiệm cá nhân của mình thành các ngân hàng đầu tư với các danh mục đầu tư cổ phiếu, phái sinh, trái phiếu và bất động sản của họ. Các ngân hàng đầu tư làm ra hàng tấn tiền và công việc của bạn tôi là trao các khoản tiền thưởng năm. Tiền thưởng bằng một bội số tiền lương hằng năm không phải là điều ngoại lệ. Tôi hỏi ông ấy các nhân viên ngân hàng phản ứng như thế nào khi được trao tiền thưởng. Họ có bao giờ cảm ơn ông không? Không, ông cho biết, ông chưa bao giờ nhận được một lời cảm ơn. Điều duy nhất mà họ hỏi là “bao nhiêu vậy và như vậy đủ chưa?” Bị vỡ mộng với nghề, giờ đây ông ấy làm việc tại trường đại học của tôi, giảng dạy cho sinh viên về đạo đức kinh doanh và quản trị nguồn nhân lực. Đọc tiếp

Phỏng vấn Mark Blaug

Mark Blaug (1927-2011)

Mark Blaug (1927-2011)

Brian SnowdonHoward R. Vane

Mark Blaug hiện nay là Professor Emeritus tại đại học London và đại học Buckingham và Visiting Profesor tại đại học Exeter, Anh. Ông được biết đến nhất nhờ những công trình về kinh tế học giáo dục, khoa học luận và lịch sử tư tưởng kinh tế.

Chúng tôi phỏng vấn Giáo sư Mark Blaug trong văn phòng của con ông tại đại học Leeds ngày 1 tháng năm 1998.

Thông tin căn bản

Giáo sư bắt đầu học kinh tế lúc nào và ở đâu?

Tôi học khoá kinh tế đầu tiên tại đại học California, Berkeley năm 1947. Nhưng mối quan tâm của tôi đối với kinh tế học thực sự được phát triển từ thời học trung học ở Hoa Kì. Tôi là một người Hoà Lan đến Hoa Kì vào giữa thế chiến thứ hai. Năm cuối bậc trung học tôi có một người thầy dạy thương mại – vào lúc bấy giờ kinh tế học được dạy dưới tên gọi này ở bậc trung học và không bao giờ được gọi là kinh tế học. Bà ta dẫn tất cả những học trò giỏi trong lớp, mà tôi là một trong những số đó, đi nghe một buổi diễn thuyết về Henry George tại Henry George School of Social Science ở New York và được phát miễn phí một quyển sách của ông, Tiến bộ và nghèo khó (1879)[1]. Khi đọc quyển này tôi vào khoảng 17 tuổi và nghĩ rằng đây quả thật là một cuốn sách tuyệt vời – thật ra nó làm tôi hoàn toàn sửng sốt. Sau đó tôi quyết định là tôi muốn học kinh tế học. Tôi tiếp tục ở đại học California, Berkeley, nơi tôi học khoá kinh tế đầu tiên. Vào thời đó tôi là một nhà mácxít. Từ chủ nghĩa Marx tôi học được quyết định luận kinh tế, theo đó không có gì quan trọng hơn bằng những cơ sở kinh tế của xã hội. Tiếc thay, càng học nhiều về kinh tế tôi lại càng ít tin vào Henry George hay vào Karl Marx. Nói như thế rồi thì tôi cũng phải nói thêm là, ngay cả ngày nay, tôi chưa bao giờ khắc phục hết chủ nghĩa triệt để của George và Marx và tôi nghĩ kết quả là nhờ thế tôi là một nhà kinh tế tốt hơn. Đọc tiếp

Ngân hàng trung ương

Central bankNgân hàng trung ương

Central bank

® Giải Nobel: MUNDEL, 1999

Ngân hàng trung ương được định nghĩa như định chế nằm ở trung tâm của hệ thống thanh toán nhằm đảm bảo việc chi trả và kiểm soát sự bành trướng của cung tiền. Đây là định chế được xem là có khả năng gìn giữ giá trị đồng tiền của một nước.

Những ngân hàng lâu đời nhất, Ngân hàng Anh (1694), Ngân hàng Thuỵ Điển (1666) hay mới hơn như Ngân hàng Pháp (1800) không được quan niệm như những định chế trung ương mà chỉ như những viện phát hành giấy bạc ngân hàng và chiết khấu những hối phiếu và lệnh phiếu, một phần những hoạt động này nhằm làm lợi cho Nhà nước.

Chính như thế mà, để chỉ giới hạn ở trường hợp của Pháp, những nghiệp vụ của Ngân hàng Pháp chủ yếu là phát hành giấy bạc vô danh trả ngay khi xuất trình cũng như những lệnh phiếu, đối phần của những thương phiếu có đầy đủ ba chữ kí. Hơn nữa, ngân hàng cũng có thể nhận kí gởi của các cá nhân và của những cơ quan công cộng. Ngân hàng Pháp cam kết cung cấp một số dịch vụ khác nhau cho Kho bạc, những dịch vụ này sau đấy đã phát triển dưới hình thức những ứng trước tạm thời cho Kho bạc. Lúc đầu những nghiệp vụ chiết khấu phải là nguồn gốc cho việc phát hành tiền tín dụng. Trong những năm đầu tồn tại của Ngân hàng Pháp, tỉ phần của những ngân hàng trong những nghiệp vụ chiết khấu là vô cùng quan trọng. Tỉ phần của chiết khấu trong toàn bộ những thương phiếu lên đến hơn 50% năm 1935 và chỉ bị bãi bỏ vào năm 1970. Rồi đạo luật về tính độc lập của Ngân hàng Pháp năm 1993 đã gần như bỏ hẳn khách hàng tư nhân, cấm cung cấp tín dụng cho Nhà nước và giao cho ngân hàng trung ương trách nhiệm về chính sách tiền tệ. Chính như thế mà dần dần Ngân hàng Pháp, lúc ban đầu là một ngân hàng thương mại chiết khấu đã thật sự biến thành một “ngân hàng trung ương” chịu trách nhiệm về sự an toàn và trường tồn của toàn bộ hệ thống thanh toán cũng như về chính sách tiền tệ. Đọc tiếp

Định nghĩa lại Tư bản chủ nghĩa

FuturecapitalismĐỊNH NGHĨA LẠI TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Nick Hanauer & Eric Beinhocker

Sự thịnh vượng là gì? Tăng trưởng bắt nguồn từ đâu? Tại sao các thị trường vận hành? Chúng ta giải quyết sự căng thẳng giữa một thế giới thịnh vượng và một thế giới đạo đức (moral world) như thế nào?

Đối với tất cả mọi người, ngoại trừ nhóm 1 phần trăm người có thu nhập cao nhất, nền kinh tế Mỹ là bị rạn nứt. Từ những năm 1980, đã có một sự thiếu kết nối ngày càng lớn giữa đời sống của những người Mỹ bình thường với số liệu thống kê – thể hiện rằng sự thịnh vượng của chúng ta đang tăng lên. Mặc dù có sự thụt lùi do cuộc Đại suy thoái, nền kinh tế Mỹ đã tăng qui mô hơn gấp đôi trong ba thập kỷ qua, trong khi thu nhập của tầng lớp trung lưu và sức mua đã chững lại. Của cải khổng lồ được tạo ra trong khi những người sinh ra trong thời kì bùng nổ dân số (ND: 1946- 1964) mất tiền tiết kiệm hưu trí của mình. Lợi nhuận doanh nghiệp đạt mức cao kỷ lục trong khi tính cơ động xã hội đạt mức thấp kỷ lục, tụt hậu so với các nước phát triển khác. Đối với rất nhiều gia đình, giấc mơ Mỹ ngày càng trở thành một kí ức lịch sử hơn là một hiện thực có thể đạt được. Đọc tiếp