Nguyên do học lịch sử và triết lý sử học

Giải thích trong sử học

Ngẫu nhiên (Khái niệm) trong sử học

C2

Antoine-Augustin Cournot (1801-1877)

NGUYÊN DO HỌC[1] LỊCH SỬ VÀ TRIẾT LÝ SỬ HỌC

Tác giả: Antoine-Augustin Cournot*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Cournot là nhà toán học của thế kỷ XIX đã đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo liên quan đến lịch sử và triết lý sử học. Nhưng do sự tách biệt truyền thống giữa khoa học và triết học, cũng như tính đa dạng trong sinh hoạt tri thức của ông, đóng góp của Cournot chỉ được các sử gia và nhà xã hội học tham gia vào cuộc tranh luận về nền tảng phương pháp của các khoa học xã hội và khoa học nhân văn hồi cuối thế kỷ này khám phá lại và đề cao, sau một tiếp xúc ban đầu lạnh nhạt.

Ngày nay, ông được nhìn nhận như một trong các triết gia hàng đầu, và một trong hai triết gia khoa học lớn của Pháp (cùng với A. Comte) của thế kỷ XIX, người đã để lại dấu ấn đậm nét trên tư duy sử học của thế kỷ XX, và là nhân vật bản lề đã góp phần đẩy dần mối quan tâm triết học về sử từ quan điểm siêu hình thống trị đương thời (Comte, Hegel, Marx) sang quan điểm phê phán, thông qua việc xem xét lại các phương thức giải thích và vấn đề nhân quả trong sử học – mặc dù triết lý sử học của ông cũng không hoàn toàn vắng bóng một số ý tưởng siêu hình! Ông đã để lại ảnh hưởng đáng kể trên nhiều sử gia Pháp lớn của thế kỷ XX, như Henri Berr, Lucien Febvre, và Fernand Braudel. Tiếp tục đọc

Advertisements

Tri thức bợm

TRI THỨC BỢM

(đọc Impostures Intellectuelles)

Hàn Thuỷ

Lại Sokal, anh chàng khó chơi và khó nói. Lần trước là một sự diễu cợt độc điạ, lần này là một bản cáo trạng nghiêm ngặt. Sau khi đăng bài báo dỏm trên nguyệt san Khoa học xã hội có tiếng Social text (xem Sokal cá tháng tư, DĐ số 64), Alan Sokal đã cùng bạn đồng nghiệp Jean Bricmont (sau đây sẽ viết tắt là S&B) viết cuốn “Impostures intellectuelles”, do NXB Odile Jacob vừa phát hành, nguyên bản tiếng Pháp. Cả hai lần đều gây sóng gió trong môi trường trí thức Pháp.

Nhưng nếu lần trước khó nói vì phải giới thiệu một tài liệu không cần (thậm chí không thể) đọc, sự kiện nằm chính ở chỗ nó hoàn toàn vô nghĩa; thì lần này làm sao nói về một quyển sách mà nếu bạn chưa đọc thì thực không thể tin. Vì một phần lớn nội dung cuốn sách “tri thức bợm” này (dịch sát là “những sự bịp bợm tri thức”) chủ yếu chứng minh rằng: có những người khác cũng dỏm, nhưng họ không nói ra. Khổ nỗi, những người này gồm một số trí thức Pháp đương đại đang có ảnh hưởng mạnh trong giới trí thức phái tả tạm gọi là “hậu hiện đại” tại Mỹ: nhà phân tâm học Lacan, nhà lý luận văn học Julia Kristeva, nữ triết gia Luce Irigaray, nhà xã hội học Bruno Latour, các triết gia Jean Baudrillard, Gilles Deleuze và Felix Guattari, kiến trúc sư chuyển sang lý luận về xã hội hiện đại Paul Virilio. Tiếp tục đọc

SOKAL cá tháng tư

SOKAL cá tháng tư

Hàn Thuỷ

Tháng tư, sau một mùa đông ảm đạm, được nắng xuân phơi phới thúc dục, người phương Tây hay đùa. Trẻ con hay sinh viên tìm cách nghịch ngợm, khéo léo dán vào lưng áo nhau mảnh giấy vẽ hình “con cá tháng tư”. Các tuần san, tập san, chuyên san thì có thể đăng những bài có nội dung tào lao, tin vịt, dưới hình thức nghiêm chỉnh để lừa độc giả, rồi cải chính trong số sau. Bạn đọc nào bị mắc lỡm thì hoặc cười xoà, hoặc hơi bực một tí, rồi cũng bỏ qua, trò đùa rơi vào quên lãng, cho tới năm sau.

Vào khoảng tháng tư năm ngoái cũng có một trò đùa trên báo, nhưng quá quắt và độc địa, vì ngược đời là tác giả đùa với chuyên san. Cá tháng tư tên Alan Sokal, giáo sư vật lý lý thuyết tại đại học Nữu Ước, mắc lỡm là ban biên tập cuả chuyên san Social Text, một chuyên san có tiếng về khoa học xã hội, biên tập tại Nữu Ước và do nhà xuất bản đại học Duke, tiểu bang Bắc Carolina, phát hành. Và nếu xem những tranh luận đã nổ bùng ra và tiếp diễn trong suốt một năm ở Mỹ, Anh và Pháp (những nơi người viết bài này với tới được), chỉ vì bài báo tào lao này, hay đúng hơn, chỉ vì sự việc bộ biên tập một chuyên san bị gạt mà không biết, thì phải nói thực chất cuả hiện tượng này không phải trò đùa. Bằng một hình thức độc đáo, tác giả đã thành công mỹ mãn trong việc ‘công luận hoá’ những cãi vã cho đến nay được giới hạn một cách kín đáo trong những tháp ngà cuả học thuật, tạm gọi là giữa một số những người nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những vấn đề trong cái quan hệ phức tạp giữa hai khía cạnh cuả văn hoá phương tây này thật ra không mới và thường được gọi dưới tên “vấn đề hai văn hoá” (problème des deux cultures), ‘văn hoá’ khoa học và ‘văn hoá’ văn chương; mà C. P. Snow đã nêu ra đầu thập niên 60. Tiếp tục đọc

Tin học và Sinh học hội tụ

ĐẦU THẾ KỶ 21:

TIN HỌC VÀ SINH HỌC HỘI TỤ

Hàn Thuỷ

Để tưởng nhớ Bùi Mộng Hùng

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon

Tục ngữ

Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói chung chỉ biết có số không và số một, không có gì khô khan hơn. Hiện nay đại đa số những người làm tin học không biết gì đến sinh học, và đa số người làm sinh học cũng chỉ dùng máy tính như một dụng cụ để viết bài hay tính toán.

Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong thời gian vừa qua cũng thấy không hiếm những thông tin hay bài báo nói về những khảo cứu vận dụng cả hai ngành khoa học – công nghệ nói trên. Thí dụ một số tựa như: “Sự thành hình ngành y khoa xi-be”, L’avènement de la cybermédecine, La Recherche, tháng 2.2000; Phải chăng ngày mai sẽ có loài vật nhân tạo?”, Les animaux artificiels sont-ils pour demain?, La Recherche, tháng 10.1998; “Từ Sinh học tới Tin học”, De la Biologie à l’Informatique, La Recherche, tháng 2.1999; “Tính toán bằng ADN”, Calculer avec l’ADN, Pour la Science, tháng 10.1998; vân vân, không thể kể hết. Người ta luôn luôn gặp những thuật ngữ mới (vì mới quá, xin phép không dịch vì đây là công việc mà ngay những người trong nghề cũng phải bàn cãi cẩn thận), như Biopuce, Biocomputer, Pilule électronique, Algorithme  génétique, mạng nơron… cũng không thể kể hết.

Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra? Tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó tới đâu? Tiếp tục đọc

Hữu hạn và vô cùng

Khoa học kỹ thuật và văn hoá ‒ 4

HỮU HẠN VÀ VÔ CÙNG

Hàn Thuỷ

“Nắm bắt tư tưởng khoa học hiện đại trong biện chứng của nó…”
(Gaston Bachelard, le nouvel esprit scientifique)

1. Biện chứng và khoa học

Biện chứng? khái niệm sơ đẳng này của người học triết hay làm khoa học nhân văn là cái gì vô cùng bí hiểm với phần đông người làm khoa học chính xác (trong đó có tác giả), vậy xin cứ mạn phép múa rìu qua mắt thợ mà tự hỏi “biện chứng là cái gì vậy?”. Suy theo từ nguyên thì ‘biện chứng’ dịch chữ ‘dialectique’, phiên âm chữ Hy lạp ‘dialektikè’; chữ này gồm ba gốc: ‘dia’ là có hai bên, ‘lexis’ là ngôn từ và ‘technè’ là cái cách, cái thuật. Tóm lại trong văn hoá Hy Lạp cổ đại ‘dialectique’ có nghiã là nghệ thuật biện luận, tranh luận giữa hai bên, ‘technique de dialogue’; rõ ràng một nguồn gốc rất ư ‘nhân văn’. Bước thứ hai cũng rất nhân văn là quan niệm của Platon, theo đó biện chứng là sự trao đổi những ý kiến đối chọi để đi đến đồng ý trên một cái nhìn cao hơn, bao quát hơn dung hoà được cả hai bên (theo dictionnaire de la philosophie, Jacqueline Russ chủ biên, nxb Armand Colin). Từ đó đẻ ra ba ngôi: chính đề, phản đề, tổng hợp; phương pháp làm luận văn được giảng dạy trong trường trung học; đến bước thứ ba này thì cái ‘hai bên’ được trừu tượng hoá, nó lẩn vào trong tư tưởng của một người để trở thành một phương pháp suy luận. Bước thứ tư: tại sao phương pháp suy luận biện chứng tỏ ra có hiệu quả, hay ít ra là có một sức hấp dẫn mãnh liệt? phải chăng vì nó thể hiện được cuộc đời? bản thân cuộc đời biến chuyển theo dòng biện chứng, nó chứa đầy các khía cạnh mâu thuẫn đồng hiện hữu nhưng đối chọi nhau, theo thời gian có thể phủ định lẫn nhau và có thể làm nảy sinh các hiện tượng khác. Các nhà tư tưởng biện chứng nhìn đâu cũng thấy mâu thuẫn, phủ định, phủ định của phủ định, v.v. dù anh theo triết thuyết duy tâm ‘tư tưởng có trước’ hay anh theo triết thuyết duy vật ‘vật chất có trước’! Ðến đây thì thế giới tư tưởng và thế giới vật chất khách quan được hoà vào trong một quan hệ khó tách rời, đó là quan hệ… biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Tiếp tục đọc

Hệ thống hiểu biết khoa học

Khoa học kỹ thuật và văn hoá ‒ 3

HỆ THỐNG HIỂU BIẾT KHOA HỌC

Hàn Thuỷ

Hai thế kỷ 18 và 19 là thời hoàng kim của khoa học kỹ thuật tại Âu châu, hiểu biết khoa học từ lãnh vực cơ học lan tràn sang những lãnh vực khác của tự nhiên và trở thành có hệ thống. Các nhà tư tưởng thuộc tôn giáo hay triết học đủ mọi phía đều không một mảy may nào nghi ngờ cái sứ mạng dùng khoa học kỹ thuật để “làm chủ và chủ sở hữu của tự nhiên”. Cũng phải nói thêm đối với đại bộ phận trí thức Châu Âu thời ấy, con người làm chủ đây là con người châu Âu, và các dân tộc khác nằm trong cái gọi là thế giới tự nhiên cần chinh phục và khai hóa.

Cái tiến trình dẫn đến sự ưu việt tuyệt đối về sức mạnh vật chất của châu Âu kéo dài từ cuối Trung cổ cho đến nay là sự tác động qua lại, quyện chặt lấy nhau trong nhiều thế kỷ của nhiều yếu tố: nền tảng tinh thần Hy Lạp cộng Do thái – Thiên chúa giáo, sự phát triển nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, chủ nghĩa tư bản, sự phát triển khoa học kỹ thuật. Dòng lịch sử đa diện này khi thì tiệm tiến, khi thì bùng nổ thành các cuộc cách mạng như cách mạng tư sản Pháp, cách mạng công nghệ và kỹ thuật Anh. Thêm vào đó còn chiến tranh, còn sự giao lưu với các nền văn hoá lớn khác như Ấn Độ, Trung Quốc. Vì vậy khó có thể xác quyết đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả như nhiều đại triết gia, đại trường phái đã và còn đang suy luận, tranh cãi. Duy có một điều rằng, trong không biết bao nhiêu các thứ chủ nghĩa đã ra đời, không có chủ nghĩa nào tự cho rằng mình phản khoa học. Vậy có lẽ có thể giới hạn ở đây trong việc tìm hiểu thế nào là khoa học thực sự, còn bảo vệ hay phê phán các triết thuyết này khác thì không phải chỗ. Tiếp tục đọc

Chủ nghĩa duy lý cổ điển

Khoa học kỹ thuật và văn hoá ‒ 2

CHỦ NGHĨA DUY LÝ CỔ ĐIỂN

Hàn Thuỷ

Vì phần đầu bài này đã xa (xem DÐ số 37, 1.95), xin nhắc lại: Lần trước đã điểm qua sự hình thành khoa học và kỹ thuật (KHKT) tại Âu châu thời kỳ ‘tiền Galilei’, và hứa sẽ tiếp theo bằng phần bàn về bản sắc văn hoá và khoa học kỹ thuật. Sở dĩ như vậy vì, sau khi đã có dàn bài và thu thập tạm đủ tài liệu, tưởng rằng có thể viết ngắn; nhưng hoá ra tài bất cập chí, viết ngắn khó hơn viết dài; đành phải xin đăng dần thành nhiều kỳ theo dòng lịch sử. Lần này (phần hai) xin giới thiệu tóm tắt những đặc thù cuả tinh thần KHKT cổ điển, đã hình thành trong hai thế kỷ 17 và 18. Tiếp theo là phần ba: ảnh hưởng hỗ tương của các cuộc cách mạng KHKT, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng chính trị trong hai thế kỷ 18 và 19. Sau cùng sẽ đề cập tới những khủng hoảng trong khoa học kỹ thuật hiện đại kể từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, cũng như giới thiệu một vài nghiên cứu so sánh KHKT Ðông phương và Tây phương. Qua cái nền lịch sử quá ngắn ngủi đó người viết bài chỉ có tham vọng xới lên một số câu hỏi trong mối liên hệ phức tạp giữa KHKT và bản sắc văn hoá. Tiếp tục đọc