Trường học của Lý tính

TRƯỜNG HỌC CỦA LÝ TÍNH

Nguyễn Xuân Xanh

Lời nói đầu. Những dòng này đã được tác giả ghi lại từ nhiều năm trước, nay được bổ sung. Con đường của lý tính dài 2.500 năm. Ở đây tác giả chỉ ghi lại một số ý tưởng trong chuỗi phát triển lịch sử vô cùng phong phú của phương Tây liên quan đến lý tính để cuối cùng thế giới hiện đại hình thành. NXX (Aug 2017)

Chính cái tính khí của phần nóng nảy và mê tín của nhân loại trong những vấn đề của tôn giáo mà từ trước đến giờ họ yêu thích những cái huyền bí, và chính lý do này mà họ thích nhất những gì họ hiểu ít nhất.

NEWTON

Trong ánh hào quang của phương Đông, cá nhân chỉ có biến mất; ánh sáng sẽ chỉ biến thành tia chớp của ý tưởng ở phương Tây, đánh vào chính nó, và từ đó thế giới của nó hình thành.

HEGEL

Những ai không biết lịch sử bị dành cho số phận lặp lại nó.

EDMUND BURKE

Lý tính (reason, Vernünft, logos) là sự tư duy, lập luận về sự vật, thế giới, bằng sự sử dụng lôgíc, trực giác, kinh nghiệm, quan sát, chứ không dựa vào thần linh, mê tín hay một uy quyền nào khác. Lý tính có quan hệ chặt chẽ với triết học, khoa học, toán học, thực nghiệm. Hegel trong tác phẩm “Triết lý của Lịch sử” tóm tắt: “Các định luật của tự nhiên, và nội dung của cái gì là đúng, là tốt, người ta gọi đó là Lý tính. Người ta gọi Khai sáng là sự có hiệu lực của các định luật này.” Lý tính gắn liền với khoa học, và phát triển theo khoa học. Các dân tộc có tinh thần khai phá và đam mê cần đến lý tính không bị che đậy bởi những đám mây phản khoa học để tiến lên. Tiếp tục đọc

Advertisements

Quan hệ nhân quả

QUAN HỆ NHÂN QUẢ[1]

Tác giả: Rudolf Carnap*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Rudolf Carnap (1891-1970)

Cách tiếp cận của nhà lôgic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có quan hệ thiết yếu giữa cái mà ta gọi là “nhân” với cái mà ta chỉ định là “quả”. Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi, không tất yếu sự kiện tiếp theo phải là ổ bánh mì tôi ăn ngày mai cũng sẽ nuôi dưỡng tôi y như vậy. Tất nhiên tôi phải thừa nhận rằng, cho đến nay, sự lắng dịu cơn đói đã thực sự theo sau việc nhai nuốt bánh mì. Thế nhưng không có một lý luận tiên nghiệm nào cho phép tôi nói rằng sự kiện đầu đã kéo sự kiện sau theo một cách tất yếu[2].

Đã vậy, Carnap còn nói thêm rằng ta không thể nào phát hiện ra nguyên nhân của một hiện tượng. Bởi bất kỳ một thay đổi nào trong thiên nhiên cũng đều phát xuất từ một “chùm hoàn cảnh”, và ta không được phép lựa ra một trong số đó như “nguyên nhân”, nếu không muốn đơn giản hóa quá đáng những quy luật trong cuộc.

Phải từ bỏ khái niệm nguyên nhân trong việc giải thích các hiện tượng vật lý chăng? Không, bởi vì yêu cầu nhân quả là đầu nguồn của hoạt động khoa học nhưng điều này không hề bao hàm, bất kỳ bằng cách nào, rằng thế giới là sự móc cuốn những cái nhân vào những cái quả. Chúng ta còn phải làm cho rõ nghĩa cái mệnh đề: “Biến cố A là nguyên nhân của biến cố B”. Một khi đã thanh lọc mọi dấu vết của chủ nghĩa nhân hình ngây thơ ra khỏi khái niệm nguyên nhân thứ đã cho biến cố A cái khả năng “sản xuất ra”, “sinh ra”, “mang lại”, biến cố B điều còn lại là cái khả năng tiên đoán sự kiện B từ sự kiện A cho một quan sát viên tiềm tàng. Như vậy, quan hệ nhân quả không thể được diễn giải như một thuộc tính của hiện tượng, mà như cái khả năng cho phép nhà khoa học đưa ra những dự báo, với ít nhiều cơ hội được thực hiện. Kết luận rằng toàn bộ vũ trụ tuân theo định luật nhân quả có nghĩa là ta quên rằng khoa học chỉ nhìn thấy quan hệ nhân quả trong tự nhiên trong chừng mực là, nói một cách chính xác, nó coi thường những gì không đáp ứng được nhu cầu tiên đoán của nó. Tiếp tục đọc

Chiều kích lịch sử

CHIỀU KÍCH LỊCH SỬ

Tác giả: Antoine-Augustin Cournot*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Khi thiên tài của Bacon ra công tóm tắt trong một bảng phân loại bách khoa những tri thức của nhân loại, và chỉ ra các kết hợp chính, ông ta đã sắp xếp chúng dưới ba loại hay hạng mục lớn: lịch sử, thi ca (văn học), và khoa học, tương ứng với ba năng lực chính của con người là trí nhớ, trí tưởng tượng, và lý trí. Chúng ta sẽ trở lại bảng phân loại nổi tiếng – từng được ca ngợi và cũng bị chỉ trích rất nhiều – này sau, cùng với những thay đổi mà d’Alembert* đã đề nghị trong bài biểu văn đặt ở đầu bộ Bách khoa Toàn thư Pháp* của thế kỷ XVIII; ở đây, hãy chỉ đề cập đến nó như bằng chứng về sự tương phản giữa hai yếu tố – một lịch sử, một khoa học hay lý thuyết – và cả hai đều là thành tố của hệ thống tri ​​thc chung ca ta, và thử nắm bắt chính xác bản chất cũng như tính năng đặc thù của chúng. Nhưng hai yếu tố này không chỉ kết hợp trong hệ thống tri ​​thức mà thôi: bởi khi chúng ta rời vùng đất của tưởng tượng văn học hay suy tư triết học, để bước vào lĩnh vực ứng dụng thực tế và hiện thực của cuộc sống, ta vẫn gặp lại chúng trong đủ thứ kết hợp và tương phản khác. Ngày nay, tại điểm dừng trong sự hiểu biết của ta về các thiết chế xã hội và điều kiện sống của các dân tộc, chúng ta nhận thức rõ rệt rằng, trong đó, có một phần ảnh hưởng thuộc về truyền thống, vào những đặc trưng ban đầu, nói tóm gọn trong một từ, vào những sự kiện mà chỉ lịch sử mới có chìa khóa để mở, trong khi một phần khác lại thuộc về những điều kiện được rút ra từ bản chất vĩnh viễn của sự vật, và do đó, là một đối tượng nghiên cứu độc lập với bất kỳ tiền lệ lịch sử nào. Tiếp tục đọc

Sai lầm của các nhà khoa học xem thường lịch sử khoa học

SAI LẦM CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC XEM THƯỜNG LỊCH SỬ KHOA HỌC

Tác giả: Charles Singer*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Tự họ, các học giả phân biệt lịch sử phát triển của môn học mà họ theo đuổi với công việc họ đang làm để đưa nó tới những bước phát triển mới. Sự phân biệt này là một trong nhiều hệ quả của sự chuyên môn hóa. Ở các học giả của thế kỷ thứ XVII và XVIII – ít chuyên môn hơn, nhưng không kém văn hóa hơn – dường như không có sự phân biệt trên. Và nếu chịu khó suy nghĩ một chút, ta sẽ nhận thấy rằng ngay ở thế kỷ thứ XX cũng không nên làm cái sự phân biệt mà ngay cả ý thức thông thường cũng lên án này. Bất kỳ phát triển mới nào của khoa học cũng nhất thiết phải dựa trên những gì đã tồn tại. Thế nhưng những gì đã tồn tại không phải lúc nào cũng dừng lại ở những giới hạn thật rõ ràng. Giữa cái đã biết và cái chưa biết không có một đường ranh xác định nào mà chỉ có một bờ rìa nhạt nhòa. Trước khi bước tới vùng đất đủ rắn chắc để xây nền, nhà bác học phải lui lại sau khá xa mới mong ra khỏi khu vực không ổn định vừa nói. Nếu muốn mở rộng hơn một chút lĩnh vực khoa học mà ta theo đuổi, để đảm bảo có đủ tầm nhìn, nhiều khi ta cần phải lội ngược dòng lịch sử để tìm cho ra một cơ sở. Nếu không chấp nhận một điểm khởi đầu đủ rộng về mặt lịch sử, chúng ta sẽ không xác định được vị trí thực sự của những vấn đề lớn hiện còn đang được thảo luận. Tiếp tục đọc

Lịch sử của khoa học trong lịch sử của nền văn minh

LỊCH SỬ CỦA KHOA HỌC TRONG LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN MINH

Tác giả: George Sarton*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Chỉ toàn bộ lịch sử của khoa học mới cho phép chúng ta đánh giá một cách chính xác sự tiến hóa của khoa học trong một thời đại hay trong một môi trường cụ thể. Thật vậy, điều thường xảy ra là, hoặc một môn học không còn được theo đuổi nữa trong khi một bộ môn khác lại tiến triển, hoặc nền văn hóa khoa học đã di chuyển trong không gian từ một dân tộc này sang dân tộc khác. Tuy nhiên, sử gia khoa học – những người không ngừng tổng hợp mọi nỗ lực phân tán – cũng không hề tưởng tượng lúc đó rằng thiên tài của con người lại có thể bùng phát hay tắt ngúm đột ngột như vậy, bởi vì ông ta nhìn thấy ánh sáng của ngọn đuốc chuyển động từ khoa học này hay dân tộc này sang một một khoa học hay một dân tộc khác. Ông thấy rõ hơn bất cứ ai sự liên tục trong không gian và thời gian của khoa học, và nhờ vậy có khả năng thẩm định sự tiến bộ của nhân loại tốt hơn ai hết. Tiếp tục đọc

Thế nào là người trí thức?

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI TRÍ THỨC?

Tác giả: Paul Alexandre Baran*
Người dịch: Phạm Trọng Luật

Paul A. Baran là một nhà kinh tế học người Mỹ theo chủ nghĩa Marx. Tiểu luận The Commitment of the Intellectual (Sự Dấn thân của Người Trí thức), đăng trên nguyệt san Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961, đã được dịch sang Pháp ngữ dưới tựa đề Qu’est-ce qu’un intellectuel trên tạp chí Partisans tháng 10 năm 1965. Trong bản dịch tiếng Việt này, một mặt, chúng tôi sử dụng bản gốc, tuy thường đối chiếu với bản Pháp văn và giữ lại tựa đề của bản sau như trên, mặt khác, chúng tôi cũng đặt thêm một số tiểu tựa cho dễ đọc, đồng thời bổ túc phần cước chú (có ký tên người dịch) khi thấy cần thiết.

Trong tiểu luận xuất sắc được giới thiệu ở đây, khi lập đường phân thủy giữa “trí thức” với “lao động trí thức”, Baran đã đưa ra một sự phân biệt hợp lý và cần thiết[1]. Và mặc dù được khai sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, thật ra nó đã vượt thoát khuôn khổ của môi trường này. Phê phán của ông đối với một thành phần xã hội nào đó ở Hoa Kỳ vẫn còn nguyên giá trị, nếu đường ranh trên được áp dụng trong một khung cảnh khác, quốc gia chậm tiến hay chủ nghĩa xã hội đương tồn. Tiếp tục đọc

Sự thiết yếu khoa học  của lịch sử khoa học

SỰ THIẾT YẾU KHOA HỌC CỦA LỊCH SỬ KHOA HỌC

Tác giả: Auguste Comte*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Auguste Comte (1798-1857)
Auguste Comte (1798-1857)

Auguste Comte Cours de Philosophie positiveThật dễ thấy rằng chỉ có một quan hệ ngoài mặt giữa việc nghiên cứu một khoa học theo phương pháp gọi là lịch sử và sự hiểu biết thực sự lịch sử hiện thực của môn học này.

 

Thật vậy, mặc dù trong trật tự của sách giáo khoa[1], chúng ta thường phải tách rời các bộ phận của mỗi ngành khoa học, những bộ phận này không những chỉ phát triển đồng thời và ảnh hưởng lên nhau – và đấy chính là lý do khiến trình tự lịch sử được ưa thích –, mà nếu xem xét sự phát triển thực hiệu của tinh thần con người trong toàn bộ, thì ta lại càng phải thấy rằng, trên thực tế, hầu hết các khoa học khác biệt đều tác động lên nhau, và trở thành hoàn hảo hơn cùng một lúc; thậm chí ta còn thấy rằng sự tiến bộ của các ngành khoa học và kỹ thuật đều phụ thuộc vào nhau bởi vô số ảnh hưởng qua lại, và cuối cùng, tất cả đều liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của xã hội loài người nói chung. Cuộn mắt xích lôi kéo nhau rộng lớn này là hiệu quả đến mức rằng, để quan niệm sự phát sinh thực hiệu của một lý thuyết khoa học, tinh thần buộc phải xem xét sự phát triển của một nghệ thuật nào đó chẳng có quan hệ hợp lý gì với nó cả, thậm chí một số tiến bộ đặc biệt nào đó trong tổ chức xã hội mà nếu không có thì sự phát sinh này sẽ không thể nào xảy ra được. Như chúng ta sẽ thấy trong nhiều ví dụ sau. Kết quả là người ta chỉ có thể biết lịch sử thực sự của mỗi khoa học, nghĩa là sự hình thành thực tế của những khám phá từ đấy nó được cấu thành, bằng cách nghiên cứu lịch sử loài người một cách tổng quát và trực tiếp. Chính vì vậy mà tất cả mọi tài liệu thu thập được cho đến nay, về lịch sử của toán học, thiên văn học, y học, v.v. dù quý giá đến đâu, cũng chỉ có thể được xem là nguyên liệu mà thôi.

Lối trình bày dựa trên trình tự gọi là lịch sử này, ngay cả khi nó có thể được thực hiện nghiêm túc trong từng chi tiết của mỗi khoa học riêng biệt, khi nhìn dưới quan hệ trọng yếu nhất, sẽ chỉ đơn thuần là trừu tượng và mang tính giả thuyết thôi, ở chỗ nó đã xem xét sự phát triển của môn học đó trong tình trạng như thể cô lập. Nó có khuynh hướng bồi đắp cho một quan điểm rất sai, cách xa với việc làm nổi bật lịch sử thực hiệu của mỗi khoa học.

Như thế, chắc chắn chúng ta đều phải được thuyết phục rằng hiểu biết về lịch sử các khoa học có tầm quan trọng cao nhất. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng ta chưa hoàn toàn biết một khoa học khi chưa biết lịch sử của nó. Tuy nhiên, phần nghiên cứu này cần phải được tiến hành cách biệt hoàn toàn với khoa học liên hệ, bởi nếu không có phần nghiên cứu đặc thù và hệ thống hóa của khoa học thì ngay chính phần lịch sử này cũng sẽ trở thành không thể hiểu được.

Auguste Comte Cours de Philosophie positive
(Giáo trình Triết lý Thực chứng),
Xuất bản bởi Schleicher, 1830
Tập I, Bài học 2, tr. 44-45.

Nguồn: Sự thiết yếu khoa học của lịch sử khoa học, ired.edu.vn

[1] Dogmatique trong nguyên bản. Ở đây, từ này không có nghĩa là «giáo điều» như trong bối cảnh tôn giáo, mà phải được hiểu theo nghĩa của triết lý cổ đại: ta có thái độ dogmatique khi ta chấp nhận không nghi ngờ một số «sự thật», khi khẳng định một số nguyên lý hay nguyên tắc (ngược với thái độ hoài nghi, bi quan). Và đấy chính là đặc tính của các sách giáo khoa, khi trình bày một cách có hệ thống những điều phải giảng dạy.