GS Hoàng Tụy – Một nhà toán học và giáo dục lớn của Việt Nam

Giáo sư Hoàng Tụy 90 tuổi

GS HOÀNG TỤY – MỘT NHÀ TOÁN HỌC VÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Xuân Xanh

Hoàng Tụy (1927-)

Lời nói đầu. Giáo sư Hoàng Tụy vừa tròn 90 tuổi ngày 7 tháng 12. Mười năm trước, 2007, chúng tôi đã làm một số Kỷ yếu công phu và dạt dào tình cảm để mừng Giáo sư 80 tuổi với sự đóng góp của trên 40 trí thức trong và ngoài nước, do nhà xuất bản Tri Thức và Cty Văn hóa Phương Nam phát hành. Tôi xin đăng lại bài viết của tôi (nằm ngoài Kỷ yếu) được rút ngắn để mừng Giáo sư. Kính chúc Giáo sư sức khỏe và hạnh phúc. Tôi hy vọng quyển Kỷ yếu quý báu này sẽ được tái bản để phục vụ bạn đọc vào dịp GS tròn 90 tuổi. NXX (Dec 2017)

Hãy hết lòng với khoa học, trong khó khăn hãy vươn lên, người trí thức không thể sống hèn.

Con người không có cảm xúc, không rung động, vô cảm trước mọi việc thì không thể làm được bất cứ việc gì.

Nếu có ai hỏi tôi biện pháp gì đột phá có thể nâng cao chất lượng đại học Việt Nam, tôi không chút ngập ngừng trả lời ngay đó là: Sửa đổi chế độ lương cực kỳ phi lý, bất công, vô hiệu quả.

Hoàng Tụy

Ngày 7 tháng 12 năm 2007 kỷ niệm đúng 80 năm tuổi của GS Hoàng Tụy. Ông là hậu duệ của cụ Hoàng Diệu bất khuất. Sinh nhật thượng thọ của Ông là một sự kiện đáng ghi nhớ cho giới làm toán việt nam, cho những người có lòng yêu khoa học, chân lý và quan tâm đến những vấn đề giáo dục sôi bỏng của đất nước, tuy rằng chắc Ông không muốn nghĩ như thế. Ông vốn là con người khiêm tốn giản dị, không muốn được người khác ca ngợi. Ca ngợi bây giờ đây đã bị lạm phát, nên ông lại càng không muốn thấy ca ngợi. Nhưng tôi phải viết đôi điều. Tiếp tục đọc

Advertisements

Bốn đối tượng của Lịch sử khoa học (1750)

d’Alembert (1717-1783)

BỐN ĐỐI TƯỢNG CỦA LỊCH SỬ KHOA HỌC (1750)

Tác giả: Jean Le Rond d’Alembert*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Lịch sử tổng quát và luận chứng của khoa học và kỹ thuật bao gồm bốn đối tượng sau: những hiểu biết, những ý kiến, những tranh luận, và những sai lầm của chúng ta.

Như lịch sử của những hiểu biết, lịch sử khoa học cho ta thấy sự phong phú, đúng hơn nữa, sự nghèo nàn thực sự của chúng ta. Một mặt, nó hạ nhục con người bằng cách trỏ vào sự ít ỏi của những hiểu biết mà hắn có; mặt khác, nó khuyến khích và nâng cao, hay ít ra là an ủi con người, bằng cách triển khai những ứng dụng đa tạp mà hắn đã có thể thực hiện từ một lượng nhỏ các ý niệm rõ ràng và chắc chắn.

Như lịch sử của những ý kiến, lịch sử khoa học cho ta thấy, hoặc bởi nhu cầu thiết yếu, hoặc có khi chỉ vì nôn nóng, con người đã thế chân cái thật bằng cái có thể là thật, với nhiều mức độ thành công khác nhau, như thế nào. Nó cho ta thấy, bằng cách nào, những gì lúc đầu chỉ là cái có xác suất xảy ra, sau đó đã trở thành cái có thật, nhờ được thiết kế lại, đào sâu thêm, và hầu như là được thanh lọc qua bao công trình nghiên cứu liên tục suốt nhiều thế kỷ. Nó cung cấp cho sự minh mẫn, của chúng ta và của con cháu đời sau, những sự kiện để xác minh, những quan điểm cần theo đuổi, những phỏng đoán để đào sâu, những hiểu biết phôi thai cần cải tiến. Tiếp tục đọc

Buôn bán trong không gian Xi-be

BUÔN BÁN TRONG KHÔNG GIAN XI-BE

Hà Dương Tuấn

  1. GIỚI THIỆU

Đọc báo hàng ngày tại Pháp (và có lẽ tại khắp các nước đã phát triển) người ta thấy không tuần nào không có vài bài về hiện tượng buôn bán trong không gian Xi-be, gọi rộng hơn là ‘thương mại điện tử’ (TMĐT, commerce électronique, hay e-commerce). Đây là một cái mốt sẽ đi qua? một thuận tiện mới trong sinh hoạt kinh tế xã hội? hay hơn thế, nó báo hiệu sự đảo lộn trong sinh hoạt kinh tế như nhiều tác giả đã nhận định? Nói gọn lại thì thương mại điện tử chủ yếu gồm hai hiện tượng chính, thứ nhất là ‘túi tiền điện tử’ (porte-monnaie électronique, PME), thứ nhì là việc người ta có thể đặt mua hàng hoá và trả tiền thẳng qua liên mạng Internet, cũng như thực hiện nhiều hoạt động kinh tế khác, chẳng hạn như thương lượng giữa các nhà kinh doanh, mua bán chứng khoán, v.v. ở đây xin chủ yếu thông tin trong phạm vi thị trường bán lẻ phục vụ người tiêu thụ (B2C), nơi tập trung những vấn đề kinh-tế-xã-hội-kỹ-thuật phức tạp và quan trọng nhất. Người ta phân biệt B2C (Business to Customer) với B2B (Business to Business), tức là làm thương mại điện tử giữa các công ty kinh doanh. Hai hiện tượng này đều dựa trên cùng một cơ sở kỹ thuật, nhưng khác nhau nhiều trong việc triển khai.

Trước hết bài này nhấn mạnh trên một tiến bộ kỹ thuật đã làm điều kiện tiên quyết cho TMĐT, đó là những giao thức (protocoles, thủ tục gửi/nhận được chuẩn hoá) và những giải thuật mật-mã-hoá và giải-mật-mã (algorithmes de cryptage et décryptage) dùng để bảo đảm sự an toàn cho những giao dịch thương mại trên liên mạng. Nhưng dĩ nhiên không phải chỉ kỹ thuật là đủ, tâm lý người tiêu thụ tin tưởng hay không tin tưởng sự an toàn trên mạng, mặc dù có thể không hoàn toàn thuần lý, có thể hoặc là động lực hoặc là cản trở quan trọng. Ghép thêm vào đó là sự bảo đảm pháp luật cần thiết, đi đôi với chính sách thuế và hải quan, những điều này lại càng trở nên phức tạp hơn khi mua bán những sản phẩm ‘không sờ mó được’ (intangible), thí dụ như những thông tin đủ loại, những chương trình tin học, những sản phẩm nghệ thuật như các trình diễn âm nhạc, và sau này phim ảnh, v.v.. Sau cùng, TMĐT cũng cần đến một mạng truyền tin công cộng nhanh, mạnh và không đắt hơn hiện nay mới đủ hấp dẫn người tiêu thụ. Những điều kiện ấy liệu khi nào mới thành hiện thực? Đó là những vấn đề ở đây xin cố gắng giải đáp. Tiếp tục đọc

Nguyên do học lịch sử và triết lý sử học

Giải thích trong sử học

Ngẫu nhiên (Khái niệm) trong sử học

C2

Antoine-Augustin Cournot (1801-1877)

NGUYÊN DO HỌC[1] LỊCH SỬ VÀ TRIẾT LÝ SỬ HỌC

Tác giả: Antoine-Augustin Cournot*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Cournot là nhà toán học của thế kỷ XIX đã đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo liên quan đến lịch sử và triết lý sử học. Nhưng do sự tách biệt truyền thống giữa khoa học và triết học, cũng như tính đa dạng trong sinh hoạt tri thức của ông, đóng góp của Cournot chỉ được các sử gia và nhà xã hội học tham gia vào cuộc tranh luận về nền tảng phương pháp của các khoa học xã hội và khoa học nhân văn hồi cuối thế kỷ này khám phá lại và đề cao, sau một tiếp xúc ban đầu lạnh nhạt.

Ngày nay, ông được nhìn nhận như một trong các triết gia hàng đầu, và một trong hai triết gia khoa học lớn của Pháp (cùng với A. Comte) của thế kỷ XIX, người đã để lại dấu ấn đậm nét trên tư duy sử học của thế kỷ XX, và là nhân vật bản lề đã góp phần đẩy dần mối quan tâm triết học về sử từ quan điểm siêu hình thống trị đương thời (Comte, Hegel, Marx) sang quan điểm phê phán, thông qua việc xem xét lại các phương thức giải thích và vấn đề nhân quả trong sử học – mặc dù triết lý sử học của ông cũng không hoàn toàn vắng bóng một số ý tưởng siêu hình! Ông đã để lại ảnh hưởng đáng kể trên nhiều sử gia Pháp lớn của thế kỷ XX, như Henri Berr, Lucien Febvre, và Fernand Braudel. Tiếp tục đọc

Tri thức bợm

TRI THỨC BỢM

(đọc Impostures Intellectuelles)

Hàn Thuỷ

Lại Sokal, anh chàng khó chơi và khó nói. Lần trước là một sự diễu cợt độc điạ, lần này là một bản cáo trạng nghiêm ngặt. Sau khi đăng bài báo dỏm trên nguyệt san Khoa học xã hội có tiếng Social text (xem Sokal cá tháng tư, DĐ số 64), Alan Sokal đã cùng bạn đồng nghiệp Jean Bricmont (sau đây sẽ viết tắt là S&B) viết cuốn “Impostures intellectuelles”, do NXB Odile Jacob vừa phát hành, nguyên bản tiếng Pháp. Cả hai lần đều gây sóng gió trong môi trường trí thức Pháp.

Nhưng nếu lần trước khó nói vì phải giới thiệu một tài liệu không cần (thậm chí không thể) đọc, sự kiện nằm chính ở chỗ nó hoàn toàn vô nghĩa; thì lần này làm sao nói về một quyển sách mà nếu bạn chưa đọc thì thực không thể tin. Vì một phần lớn nội dung cuốn sách “tri thức bợm” này (dịch sát là “những sự bịp bợm tri thức”) chủ yếu chứng minh rằng: có những người khác cũng dỏm, nhưng họ không nói ra. Khổ nỗi, những người này gồm một số trí thức Pháp đương đại đang có ảnh hưởng mạnh trong giới trí thức phái tả tạm gọi là “hậu hiện đại” tại Mỹ: nhà phân tâm học Lacan, nhà lý luận văn học Julia Kristeva, nữ triết gia Luce Irigaray, nhà xã hội học Bruno Latour, các triết gia Jean Baudrillard, Gilles Deleuze và Felix Guattari, kiến trúc sư chuyển sang lý luận về xã hội hiện đại Paul Virilio. Tiếp tục đọc

SOKAL cá tháng tư

SOKAL cá tháng tư

Hàn Thuỷ

Tháng tư, sau một mùa đông ảm đạm, được nắng xuân phơi phới thúc dục, người phương Tây hay đùa. Trẻ con hay sinh viên tìm cách nghịch ngợm, khéo léo dán vào lưng áo nhau mảnh giấy vẽ hình “con cá tháng tư”. Các tuần san, tập san, chuyên san thì có thể đăng những bài có nội dung tào lao, tin vịt, dưới hình thức nghiêm chỉnh để lừa độc giả, rồi cải chính trong số sau. Bạn đọc nào bị mắc lỡm thì hoặc cười xoà, hoặc hơi bực một tí, rồi cũng bỏ qua, trò đùa rơi vào quên lãng, cho tới năm sau.

Vào khoảng tháng tư năm ngoái cũng có một trò đùa trên báo, nhưng quá quắt và độc địa, vì ngược đời là tác giả đùa với chuyên san. Cá tháng tư tên Alan Sokal, giáo sư vật lý lý thuyết tại đại học Nữu Ước, mắc lỡm là ban biên tập cuả chuyên san Social Text, một chuyên san có tiếng về khoa học xã hội, biên tập tại Nữu Ước và do nhà xuất bản đại học Duke, tiểu bang Bắc Carolina, phát hành. Và nếu xem những tranh luận đã nổ bùng ra và tiếp diễn trong suốt một năm ở Mỹ, Anh và Pháp (những nơi người viết bài này với tới được), chỉ vì bài báo tào lao này, hay đúng hơn, chỉ vì sự việc bộ biên tập một chuyên san bị gạt mà không biết, thì phải nói thực chất cuả hiện tượng này không phải trò đùa. Bằng một hình thức độc đáo, tác giả đã thành công mỹ mãn trong việc ‘công luận hoá’ những cãi vã cho đến nay được giới hạn một cách kín đáo trong những tháp ngà cuả học thuật, tạm gọi là giữa một số những người nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những vấn đề trong cái quan hệ phức tạp giữa hai khía cạnh cuả văn hoá phương tây này thật ra không mới và thường được gọi dưới tên “vấn đề hai văn hoá” (problème des deux cultures), ‘văn hoá’ khoa học và ‘văn hoá’ văn chương; mà C. P. Snow đã nêu ra đầu thập niên 60. Tiếp tục đọc

Tin học và Sinh học hội tụ

ĐẦU THẾ KỶ 21:

TIN HỌC VÀ SINH HỌC HỘI TỤ

Hàn Thuỷ

Để tưởng nhớ Bùi Mộng Hùng

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon

Tục ngữ

Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói chung chỉ biết có số không và số một, không có gì khô khan hơn. Hiện nay đại đa số những người làm tin học không biết gì đến sinh học, và đa số người làm sinh học cũng chỉ dùng máy tính như một dụng cụ để viết bài hay tính toán.

Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong thời gian vừa qua cũng thấy không hiếm những thông tin hay bài báo nói về những khảo cứu vận dụng cả hai ngành khoa học – công nghệ nói trên. Thí dụ một số tựa như: “Sự thành hình ngành y khoa xi-be”, L’avènement de la cybermédecine, La Recherche, tháng 2.2000; Phải chăng ngày mai sẽ có loài vật nhân tạo?”, Les animaux artificiels sont-ils pour demain?, La Recherche, tháng 10.1998; “Từ Sinh học tới Tin học”, De la Biologie à l’Informatique, La Recherche, tháng 2.1999; “Tính toán bằng ADN”, Calculer avec l’ADN, Pour la Science, tháng 10.1998; vân vân, không thể kể hết. Người ta luôn luôn gặp những thuật ngữ mới (vì mới quá, xin phép không dịch vì đây là công việc mà ngay những người trong nghề cũng phải bàn cãi cẩn thận), như Biopuce, Biocomputer, Pilule électronique, Algorithme  génétique, mạng nơron… cũng không thể kể hết.

Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra? Tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó tới đâu? Tiếp tục đọc