Kinh tế như một quá trình được thiết chế

Trade and Market in the Early EmpiresKinh tế như một quá trình được thiết chế[1]

Karl Polanyi

Trong chương này, chúng tôi chủ yếu xác định nghĩa của thuật ngữ “kinh tế” sao cho có thể vận dụng nó một cách đồng nhất vào tất cả các khoa học xã hội.

Trước hết phải nhận thấy là, khi nói đến hoạt động của con người, thuật ngữ “kinh tế” có hai ý nghĩa có cội nguồn khác nhau mà chúng tôi gọi bằng nghĩa thực chất và nghĩa hình thức.

Nghĩa thực chất bắt nguồn từ sự phụ thuộc của con người vào tự nhiên và đồng loại nhằm đảm bảo sự sống còn của mình. Nghĩa này dẫn chiếu về sự trao đổi giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Sự trao đổi này cung cấp cho con người những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của mình.

Nghĩa hình thức bắt nguồn từ tính logic của quan hệ giữa cứu cánh và phương tiện, như các từ “kinh tế” và “tiết kiệm” cho thấy. Nghĩa này dẫn chiếu về tình thế lựa chọn nhất định, tức là lựa chọn giữa những cách sử dụng khác nhau các phương tiện khác nhau do sự khan hiếm của các phương tiện này. Nếu những quy luật chi phối việc lựa chọn các phương tiện được gọi là logic của hành động duy lí thì chúng ta có thể gọi biến thể này của logic bằng một khái niệm mới: kinh tế hình thức. Tiếp tục đọc

Aristotle khám phá kinh tế

Aristotle (384-322 BC)
Aristotle (384-322 BC)

Aristotle khám phá kinh tế[1]

Karl Polanyi

Khi đọc chăm chú các chương trước[2], có lẽ bạn đọc đã đoán rằng vài kết luận quan trọng vẫn còn để ngõ. Cuộc tranh luận về oikos và những bàn luận của chúng tôi về các phương pháp của thương mại assyrian cũng như về các thương cảng ở Tây Địa trung hải dường như gợi ý rằng việc nghiên cứu thế giới cổ đại, thế giới đã sản sinh ra nền văn minh Hi lạp rực rỡ, sẽ dành cho chúng ta một sự ngạc nhiên. Sự chờ đợi này hoàn toàn không phải không có lí do vì để đánh giá lịch sử kinh tế Hi Lạp, việc thừa nhận sự vắng mặt của các thị trường ở Babylon thời Hammourabi có những hệ luận hiển nhiên.

Hình ảnh quen thuộc của thành Athens cổ điển phải giải quyết điều có vẻ là một mạng những mâu thuẫn. Kết luận chủ yếu phải là Attica (vùng Athens – ND) không thừa hưởng, như chúng ta hằng tin tưởng vững chắc, những kĩ thuật thương mại được giả định là được phát triển ở Đông phương, nhưng đúng hơn Attica nằm ở cội nguồn của phương pháp thương mại mới, có thị trường. Vì, nếu Babylon và Tyre không phải là, như ngày nay đã rõ, những trung tâm xưa của thị trường tạo ra giá cả thì những yếu tố của thể chế phôi thai này phải thể hiện trong thế giới Hi lạp trong thiên niên kỉ đầu trước công nguyên. Do đó, Hi lạp trong các thế kỉ VI và V, về các khía cạnh chủ yếu, còn ít kinh nghiệm kinh tế hơn những khẳng định của các “nhà nguyên thủy” quyết liệt nhất, trong lúc vào thế kỉ thứ IV bản thân người Hi lạp thiết lập những phương pháp thương mại có lời mà lâu sau này sẽ sản sinh ra sự cạnh tranh thị trường. Tiếp tục đọc

Cách tiếp cận định lượng trong việc nghiên cứu vai trò của đường sắt đối với tăng trưởng kinh tế Mỹ

History of rail transport in the United StatesCách tiếp cận định lượng trong việc nghiên cứu vai trò của đường sắt đối với tăng trưởng kinh tế Mỹ

Một số phát hiện ban đầu [*]

[*] Bài viết này đã được trình bày lần đầu tiên vào tháng 12/1960 tại Hội nghị Purdue về Phương pháp Định lượng trong Lịch sử kinh tế và tại hội nghị St. Louis của Hiệp hội Kinh trắc học. Đây là một báo cáo về một khía cạnh của một nghiên cứu lớn hơn đang được tiến hành về Đường sắt và tăng trưởng kinh tế Mỹ: Các tiểu luận về sử trắc học (Railroads and American Economic Growth: Essays in Econometric History). Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Simon Kuznets và G. Heberton Evans, Jr. Tất nhiên, họ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ sai sót nào xuất hiện trong bài viết này. Tất cả các tính toán được trình bày trong bài viết chỉ mới là sơ bộ và cần được xem xét lại.

Tôi rất biết ơn Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội đã hào phóng hỗ trợ các phần của nghiên cứu mà bài viết này dựa vào.

Có chính đáng hay không khi các nhà sử học xem xét các khả năng khác có thể có đối với các sự kiện đã xảy ra? … Thông báo rằng một việc đã xảy ra, cách nói đó không làm sáng tỏ điều gì cả. Chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của những gì đã xảy ra chỉ khi chúng ta so sánh chúng với những gì có thể đã xảy ra.

MORRIS RAPHAEL COHEN Tiếp tục đọc

Ông Keynes và các “nhà cổ điển”

John R. Hicks (1904-1989)
John R. Hicks (1904-1989)

Ông Keynes và các nhà cổ điển: gợi ý một cách hiểu

Bạn đọc ít từ tâm nhất hẳn sẽ công nhận là tính châm biến của Lí thuyết tổng quát của ông Keynes đã nâng cao giá trị tiêu khiển của tác phẩm này. Song cũng rõ ràng là Dunciad đã làm cho không ít bạn đọc bối rối. Ngay cả khi họ đã bị những lí lẽ của ông Keynes thuyết phục và khiêm tốn nhìn nhận rằng mình đã từng là những “nhà kinh tế cổ điển” thì họ cũng khó nhớ rằng trong những ngày chưa đổi mới đó họ đã tin vào những điều mà ông Keynes bảo họ đã từng tin […]

Một trong những nguyên nhân của tình hình này chắc chắn có thể tìm thấy trong việc ông Keynes coi những tác phẩm mới đây của giáo sư Pigou, đặc biệt là cuốn The Theory of Employment (Lí thuyết thất nghiệp) như là tiêu biểu cho “kinh tế cổ điển”. Hiện nay quyển Lí thuyết thất nghiệp là hoàn toàn mới và vô cùng khó, do đó có thể yên tâm nói rằng nó chưa ảnh hưởng gì lớn đến việc giảng dạy thông thường môn kinh tế. Đối với đa số, học thuyết của nó cũng lạ và mới như học thuyết của ông Keynes. Bởi thế một nhà kinh tế bình thường càng thêm bối rối khi được biết là mình đã từng tin vào những điều đó. Tiếp tục đọc

Lí thuyết tổng quát về việc làm

The General Theory of EmploymentLí thuyết tổng quát về việc làm

M. Keynes

[…] Tôi quan tâm nhiều đến những ý tưỏng cơ bản tương đối đơn giản đặt nền móng cho lí thuyết của tôi hơn là những dạng đặc biệt tôi đã dùng để gói ghém chúng. Và ở thời điểm này của cuộc thảo luận tôi không hề muốn định hình những dạng ấy. Nếu những ý tưởng cơ bản và đơn giản ấy trở nên quen thuộc và được chấp nhận thì thời gian và kinh nghiệm cùng với sự cộng tác của nhiều bộ óc sẽ tìm ra cách tốt nhất để biểu đạt chúng. […]

I.

Phân tích của Ricardo thường được công nhận là liên quan đến điều ngày nay ta gọi là cân bằng dài hạn. Đóng góp của Marshall chủ yếu là đã ghép thêm vào đó nguyên lí cận biên và nguyên lí thay thế cùng với việc xem xét sự chuyển dịch từ một vị thế cân bằng dài hạn sang một vị thế cân bằng dài hạn khác. Song cũng giống như Ricardo, ông đã giả định rằng số lượng các nhân tố sản xuất được sử dụng là cho trước và vấn đề là xác định cách thức sử dụng chúng và số tiền tương đối trả cho chúng. Edgeworth và giáo sư Pigou, và sau họ là những tác giả đương đại đã tinh tế hóa và cải tiến lí thuyết này bằng cách xem xét là những đặc trưng khác nhau của những hàm cung các nhân tố sản xuất tạo nên những hiệu ứng gì, những gì sẽ xảy ra trong điều kiện độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo, trong chừng mực nào lợi thế xã hội và lợi thế cá nhân trùng khớp với nhau, việc trao đổi trong một hệ thống mở đặt ra những vấn đề gì đặc biệt, và những vấn đề tương tự. Nhưng giống như những người đi trước, các tác giả hiện đại này vẫn xét một hệ thống trong đó trị giá các nhân tố sử dụng là cho trước và những sự kiện thích đáng khác ít nhiều được biết một cách chắc chắn. Điều này không có nghĩa rằng họ xét đến một hệ thống không thừa nhận sự đổi thay hay ngay cả một hệ thống ngay từ đầu loại trừ khả năng những dự kiến sẽ tỏ ra là sai lầm. Nhưng ở bất kì thời điểm nào thì những sự kiện và dự báo đều được giả định là cho trước dưới một dạng nhất định và tính toán được; và rủi ro, dù được thừa nhận và không được quan tâm hơn nữa, được giả định là có thể tính toán một cách chính xác thể theo phép tính bảo hiểm. Phép tính xác suất, tuy chỉ bị ngầm ám chỉ, được giả định là có khả năng quy bất trắc về một vị thế tính toán được như thể đó là một tình trạng chắc chắn. Điều này giống với phép tính Bentham về nhọc nhằn và vui thú, thuận lợi và bất lợi, qua đó triết lí của Bentham giả định rằng phép tính này chi phối hành vi đạo đức của con người. Tiếp tục đọc

Giả thiết lí thuyết và dữ kiện không quan sát

Wassily Leontief
Wassily Leontief

Giả thiết lí thuyết và dữ kiện không quan sát[1]

Uy tín của kinh tế học ngày nay đang ở đỉnh cao tri thức và được công chúng tán đồng. Nỗi quan tâm mà công chúng, các nhà chính trị dày dạn và cả những doanh nhân hoài nghi nhất, thể hiện đối với mỗi phát biểu của chúng ta chỉ có thể so sánh với sự chú ý, những năm trước đây, họ dành cho các nhà vật lí và chuyên gia không gian khi mục đích quan trọng nhất của đất nước dường như là đưa người lên cung trăng và trở về trái đất. Hàng loạt bài khảo luận bác học, chuyên khảo và sách giáo khoa là những đợt sóng thần; Econometrica, tạp chí hàng đầu về kinh tế toán học, vừa nâng nhịp độ xuất bản định kì từ 4 lên 6 số một năm.

Và dù vậy, một số trong chúng ta từng chứng kiến sự phát triển chưa từng có của kinh tế học suốt ba thập niên qua vẫn ngày càng cảm thấy có điều bất ổn trước hiện tình của ngành mình. Điều này hình như còn được chính những người đã có đóng góp vào sự “bùng nổ“ ấy chia sẻ. Họ nhập vào cuộc chơi với tất cả sự khéo léo và tài tình của nhà chuyên nghiệp song có những hoài nghi nghiêm trọng về luật chơi này.

Phần lớn các nghiên cứu và giảng dạy ở đại học bị phê phán vì thiếu tính thích đáng nghĩa là không có ảnh hưởng cụ thể tức thời. Để đáp lại chỉ trích này, gần như lập tức nhiều đề án nghiên cứu, hội thảo và giáo trình cơ bản được tiến hành về các chủ đề như nghèo đói, các khu ổ chuột ở đô thị, ô nhiễm nước và không khí trong lành. Mỗi một khi có lời phàn nàn thì, theo một phản ứng Pavlov, tổng thống Nixon bổ nhiệm một hội đồng chuyên trách và các đại học mở một khoá học mới. Tôi không hề nghĩ rằng không cần phải điều chỉnh tầm bắn khi mục tiêu đã di chuyển. Tuy nhiên khó khăn không phải ở chỗ lựa chọn mục tiêu không thích hợp mà ở việc chúng ta không có khả năng nhắm trúng tâm bất kì mục tiêu nào. Nỗi bất ổn tôi đề cập ở trên không phải là do việc thiếu tính thích đáng của các vấn đề cụ thể gây nên, những vấn đề mà các nhà kinh tế hiện đang dồn nỗ lực giải quyết. Nỗi bất ổn là do những thiếu sót trông thấy được của những phương tiện khoa học không phù hợp được các nhà kinh tế vận dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể. Tiếp tục đọc